Yahoo messager & Skype
Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010
[XHTN] Xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng - Phần 2
NHÂN TỐ 1: LỢI THẾ KINH TẾ
Đánh giá lợi thế kinh tế của một ngân hàng là yếu tố trung tâm trong phân tích của chúng tôi. Một lợi thế kinh tế vững chắc là nhân tố chính làm cơ sở để tạo ra và duy trì nguồn thu nhập của một tổ chức, do đó, giúp các ngân hàng duy trì và cải thiện khả năng phòng chống rủi ro trong những thị trường mục tiêu của nó. Tóm lại, các ngân hàng có lợi thế kinh tế mạnh có vị thế tốt hơn khi chống chọi với các điều kiện thị trường khó khăn kéo dài
Trong bảng điểm, Moody's tập trung vào 4 nhân tố phụ để đánh giá lợi thế kinh tế: Thị phần và tính ổn định, đa dạng hóa khu vực địa lý, tính ổn định của nguồn thu nhập, tính đa dạng hóa nguồn thu nhập
1. Thị phần và tính ổn định
Nhân tố phụ đầu tiên mà chúng tôi xem xét là thị phần và khả năng duy trì thị phần trong dài hạn. Thị phần lớn với một thương hiệu được nhận biết rộng rãi có liên quan chặt chẽ với khả năng trả giá (lãi suất) của ngân hàng. Những yếu tố này như các rào cản các đối thủ khác giành lấy thị phần và như một chỉ báo cho sự ổn định vị thế và khả năng bảo vệ mình của ngân hàng trước các đối thủ cạnh tranh.
Thị phần được sử dụng cho nhân tố phụ này được quyết định dựa trên nơi mà ngân hàng có thu nhập ròng chiếm đa số. Nó thường dựa trên khu vực địa lý, sản phẩm và khách hàng. Đối với những ngân hàng hoạt động trong nhiều khu vực địa lý khác nhau và/ hoặc nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, chúng tôi sẽ cố gắng ước lượng % thị phần thích hợp của nó.
Quy mô của bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào đều phụ thuộc vào đặc điểm của khách hàng, sản phẩm và sự tồn tại hoặc thiếu hụt của luật pháp hay các rào cản thâm nhập ngành. Thị trường thích hợp đối với các sản phẩm ngân hàng bán lẻ có thể là địa phương, trong khi đối với các sản phẩm khác là toàn quốc hay đa quốc gia. Thị trường tương ứng cũng có thể bao gồm các đối thủ cạnh tranh phi ngân hàng tùy thuộc vào sần phẩm hay dịch vụ mà họ đưa ra
Từ đặc điểm của thị trường, một ngân hàng không cần phải lớn mới có được thị phần lớn. Một ngân hàng nhỏ nhưng chi phối thị trường trong một phạm vi nhỏ và được bảo vệ, có thể có giá trị kinh tế được duy trì và nó sẽ chuyển thành nguồn thu nhập ổn định hơn so với các ngân hàng khác. Nói cách khác, một ngân hàng với quy mô tương tự hoặc thậm chí lớn hơn mà cạnh tranh trong thị trường ở phạm vi toàn cầu có thể có thị phần hạn chế hơn.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận ra rằng vị thế thị trường của ngân hàng có thể thay đổi theo thời gian. Xu hướng gần đây cũng sẽ được xem xét, cũng như các đặc điểm cụ thể của từng thị trường riêng biệt.
2. Đa dạng hóa khu vực địa lý
Nhân tố phụ thứ hai đánh giá mức độ đa dạng hóa khu vực kinh doanh của một tổ chức tín dụng. Nhìn chung, sự tập trung quá mức hoạt động cho vay tại một khu vực địa lý đơn lẻ với các hoạt động kinh tế không được đa dạng hóa làm gia tăng rủi ro tín dụng, suy yếu chất lượng tài sản và dễ bị tác động bởi các chu kỳ kinh doanh.
Mở rộng ra, với một ngân hàng nhỏ trong một khu vực đơn lẻ, chúng tôi tin rằng ngân hàng đó nhiều khả năng phải chịu sự biến động thu nhập lớn hơn các ngân hàng được đa dạng hóa khu vực hoạt động. Khu vực địa lý hạn chế thường phụ thuộc vào một số ít ngành kinh tế hơn các khu vực khác. Tuy nhiên, chúng tôi nhận ra rằng, vẫn có những ngoại lệ. Một vài khu vực nhỏ hơn có thể vẫn được đa dạng hóa cao, ngược lại các khuc vực lớn hơn có thể kém đa dạng hóa hơn
3. Tính ổn định nguồn thu nhập
Nhân tố phụ thứ 3 mà chúng tôi xem xét là mức độ có thể dự báo kết quả các lĩnh vực kinh doanh chính của một tổ chức tín dụng. Chúng tôi đánh giá cao các ngân hàng dựa trên hoạt động bán lẻ vì nó có thể tạo ra dòng thu nhập sau khi điều chỉnh rủi ro có thể dự báo được, và nó là tài sản vô giá trong giai đoạn thị trường biến động hoặc lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Sự ổn định thu nhập này thường là kết quả của những mối quan hệ khách hàng bền vững, danh mục cho vay gồm nhiều khoản nhỏ (granular loan portfolios) mà thường thấy ở các ngân hàng bán lẻ truyền thống. Ngân hàng bán sỉ/ ngân hàng dành cho doanh nghiệp thường chịu tính biến động cao hơn trong một thời gian ngắn và bị chi phối bởi các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng.
Chúng tôi chú thích rằng việc phân tích khả năng dự báo được kết quả các mảng kinh doanh chính của một ngân hàng cũng là một bộ phận không thể thiếu trong đánh giá năng lực quản trị rủi ro và vị thế rủi ro của một ngân hàng.
4. Tính đa dạng hóa nguồn thu nhập
Nhân tố thứ 4 mà chúng tôi phân tích là mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong bảng đánh giá, chúng tôi tập trung vào xem xét một ngân hàng có tính đa dạng hóa hay không, những ngân hàng nào mà chỉ dựa vào một lĩnh vực kinh doanh duy nhất, chúng tôi gọi là monoline, và nó sẽ nhận điểm E cho nhân tố phụ này. Niềm tin quá mức vào một hoạt động kinh doanh duy nhất có thể làm cho tổ chức tín dụng dễ bị tổn thương trước những thay đổi tiềm ẩn đột ngột và không thể dự báo trong thị trường mà nó hoạt động, trong khi lại không có nguồn thu nhập khác để tự bảo vệ trước tình trạng mất khả năng thanh toán. Trong bảng điểm xếp hạng, chúng tôi định nghĩa một ngân hàng như là một monoline nếu hơn 80% thu nhập ròng của nó xuất phát từ một hoạt động hay một sản phẩm duy nhất. Ví dụ như các tổ chức mà tạo ra hơn 80% lãi ròng từ thẻ tín dụng, cho thuê tài sản hoạt động và tài chính, cho vay mua ô tô, bao thanh toán, tín dụng bất động sản, tài trợ dự án, cho vay đầu tư chứng khoán ... Riêng đối với các ngân hàng bán lẻ, bởi đặc tính tự nhiên của nó đã được đa dạng hóa giữa hoạt động cho vay và nhận tiền gửi, sẽ không được coi như là monoline.
Nếu một ngân hàng monoline có được lợi thế từ thị phần lớn và thu nhập ổn định, những yếu tố tích cực đó sẽ được thể hiện ở các nhân tố phụ tương ứng. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng điểm số thấp hơn đối với nhân tố phụ "Đa dạng hóa nguồn thu nhập" thì thích hợp vì những ngân hàng monoline dễ bị tổn thương hơn trước những thay đổi tiềm ẩn của thị trường mà không có nguồn thu nhập khác bù đắp.
NHÂN TỐ 2: VỊ THẾ RỦI RO
Vị thế rủi ro của ngân hàng là một nhân tố định tính quan trọng trong phân tích tín dụng của Moody's. Cách tiếp cận của ban quản lý để quản trị các rủi ro là thành phần chính yếu làm nền tảng cho các quyết định mang tính chiến lược và có thể là nền tảng cho cả các quyết định tiếp theo sau đó. Chúng tôi nhận thấy rằng các quy tắc, quan điểm về rủi ro thì song hành với chiến lược của ngân hàng.
Trong phương pháp phân tích của chúng tôi, chúng tôi dựa trên sự kết hợp các đánh giá định tính và định lượng để có thể cung cấp cái nhìn thấu đáo về các nguyên tắc quản trị rủi ro và hiệu lực quản trị rủi ro của một ngân hàng. Quản trị rủi ro ám chỉ việc giảm thiểu hoặc kiểm soát rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Những rủi ro này ảnh hưởng đến khả năng dự báo thu nhập và lợi nhuận cơ bản của ngân hàng, và trong một vài trường hợp gây nguy hiểm đến vị thế tín dụng của ngân hàng nếu chúng không được quản trị hợp lý. Các nhân tố phụ khi đánh giá Vị thế rủi ro là quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức, quyền kiểm soát và quản trị rủi ro, tính minh bạch của báo cáo tài chính , mức độ tập trung rủi ro tín dụng, quản trị thanh khoản, tham vọng rủi ro thị trường
1. Quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức
Bao gồm: quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức, rủi ro nhân sự chủ chốt, và rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ
a. Quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức
Moody's tin rằng tại các ngân hàng có cơ cấu sở hữu phức tạp, ban quản trị có thể gặp khó khăn nhiều hơn khi áp dụng quan điểm giám sát độc lập đối với các cổ đông đang nắm quyền kiểm soát ngân hàng. Người ta có thể cho rằng, các cổ đông lớn, các chủ sở hữu mang tính gia đình, có thể khuyến khích các quyết định mang đến lợi ích dài hạn. Tuy nhiên, ban giám đốc của một tổ chức bị kiểm soát phải quản trị các xung đột lợi ích tiềm tàng giữa lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và lợi ích của các cổ đông thiểu số. Nhiệm vụ của ban quản trị trở nên khó khăn hơn khi cơ cấu tổ chức có tính phức tạp cao và/ hoặc khi các cổ đông kiểm soát nắm giữ các vị trí điều hành chủ yếu.
b. Rủi ro nhân sự chủ chốt
Cách đánh giá chất lượng quản trị của Moody được bao hàm bởi một nhóm các nhân tố xếp hạng sức mạnh tài chính, ví dụ, quan điểm chiến lược và thành tích tài chính quá khứ của ngân hàng. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là mức độ mà một ngân hàng phụ thuộc vào một ủy viên ban quản trị riêng lẻ hoặc một nhóm các ủy viên, mà những cá nhân này chi phối các vị trí ra quyết định chủ yếu. Từ đó, chúng tôi tin điều này có thể tạo ra rủi ro nhân sự chủ chốt, vì việc đánh mất các cá nhân như vậy có thể tác động bất lợi đến tương lai của ngân hàng, ngay cả đối với các ngân hàng đã có quy trình tuyển chọn người kế vị rõ ràng
c. Rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ
Một quy trình phê duyệt tín dụng độc lập cần thiết đối với khả năng thanh toán của ngân hàng. Chúng tôi tin rằng sự mở rộng tín dụng dành cho các nhân viên trong nội bộ ngân hàng - mà còn được gọi là các khoản cho vay đến những người có liên quan - ám chỉ rằng các tiêu chuẩn xét duyệt đã bị phá vỡ, hoặc tối thiểu cũng nói lên rằng các tiêu chuẩn đã không được áp dụng một cách chuẩn mực. Những khoản vay như vậy có thể tạo ra nhiều khó khăn hơn đối với ban quản trị, bởi vì các xung đột lợi ích cố hữu của nó. Những khoản cho vay này đặc biệt gây ra nhiều rắc rối, khi nó được xét duyệt cho các cổ đông nắm quyền kiểm soát hoặc các thành viên quản trị ngân hàng (hoặc những người có liên quan với họ).
Tính độc lập thấp làm gia tăng rủi ro của ngân hàng. Vì lý do này, Moody tin rằng sự có mặt của một vài thành viên quản trị độc lập trong ban quản trị của ngân hàng thì quan trọng (như tiến sĩ Trần Xuân Giá là một thành viên độc lập của ACB) và nó sẽ làm tăng điểm số đối với các ngân hàng kém cỏi chưa bổ nhiệm các thành viên quản trị độc lập và không quan tâm đến cơ cấu sở hữu
2. Quyền kiểm soát và quản trị rủi ro
Chúng tôi quan tâm tới hệ thống quản lý, hệ thông kiểm soát nội bộ và sự cân bằng giữa chúng như là một phương tiện để giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tổng thể của ngân hàng. Chú ý rằng quyền kiểm soát tại ngân hàng đang được chia nhỏ trong những năm gần đây, phản ánh sự phức tạp ngày càng cao hơn để tạo ra sự hòa hợp trong ngân hàng, tầm quan trọng gia tăng trong các hoạt động kinh doanh tại một số ngân hàng, tác dộng của tiến bộ kỹ thuật, sự mở rộng tự do tài chính, và sự thay đổi các luât lệ. Cũng trong thời gian này, các ngân hàng đang đầu tư nguồn lực lớn hơn để đo lường và kiểm soát rủi ro kinh doanh, theo như Basel II, các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ vốn tổi thiểu để đảm bảo cho các rủi ro kinh doanh
3. Tính minh bạch của báo cáo tài chính
Tính minh bạch của báo cáo tài chính là một yếu tố quan trọng trong phân tích chiến lược và vị thế rủi ro của ngân hàng, vì dữ liệu tài chính và hoạt động kinh doanh được báo cáo bởi ngân hàng là điểm khởi đầu trong phân tích tín dụng của chúng tôi. Thêm vào đó, báo cáo tài chính nghèo nàn thường che dấu các rủi ro trong ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng sự minh bạch và thông tin tài chính đúng hạn thì phù hợp với những ngân hàng có sức mạnh tài chính vững vàng.
Các nhân tố được xem xét khi đánh giá tính minh bạch BCTC của ngân hàng là: thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu, các báo cáo thường xuyên và đúng hạn, chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng
a. Thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu: Moody's tin rằng các báo cáo tài chính được thiết lập dựa trên IFRS, US, GAAP hay bất kỳ tiêu chuẩn kế toán tương tự nào mang tính toàn cầu, hoặc được kiểm toán bởi các công ty hàng đầu đề có thể so sánh được với nhau. Bất kỳ một sai lệch có ý nghĩa nào xảy ra sẽ làm cho điểm số minh bạch tài chính của ngân hàng giảm xuống
b. Các báo cáo thường xuyên và đúng hạn: Theo quan điểm của chúng tôi, các báo cáo tài chính theo quý và năm cần được báo cáo thường xuyên và đúng hạn mới có thể đạt được điểm số xếp hạng cao
c. Chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng: Chất lượng thông tin tài chính khác nhau một cách có ý nghĩa tại các ngân hàng được chúng tôi xếp hạng. Nhìn chung, chúng tôi mong đợi rằng các ngân hàng sẽ đưa ra các báo cáo tài chính được trình bày rõ ràng và dễ hiểu hơn đến người sử dụng, công khai tất cả các thông tin quan trọng như danh mục các khoản cho vay lớn, các khoản nợ xấu, mức trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu, tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro. Chúng tôi cũng tiếp xúc với ban quản trị để có hiểu biết toàn diện hơn về rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và giá trị tại rủi ro của ngân hàng
4. Mức độ tập trung rủi ro tín dụng
Sự tập trung tín dụng lớn trong các khoản cho vay, kinh doanh và danh mục đầu tư gia tăng rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng các khoản tín dụng lớn cung cấp cho một vài người vay tiền, ngành hay khu vực đơn lẻ là căn nguyên tiềm tàng của biến động thu nhập.
Các thước đo mà chúng tôi sử dụng để đo lường mức độ tập trung rủi ro tín dụng là mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào khách hàng và mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào ngành.
5. Quản trị thanh khoản
Moody's tin rằng hầu hết các ngân hàng phá sản đầu tiên và trước hết là bởi vì mất thanh khoản. Khi một ngân hàng hoạt động mà không có tiền mặt, nó không thể thực hiện được các chức năng của mình. Nói một cách khác, thanh khoản mạnh có thể giúp một ngân hàng yếu về các mặt khác duy trì được nguồn tiền thỏa đáng để tài trợ cho chính bản thân nó trong suốt giai đoạn khó khăn. Vì vậy, một trong những mục tiêu cốt yếu trong phân tích sức mạnh tài chính của ngân hàng là đánh giá khả năng tự tài trợ trong giai đoạn khó khăn về tài chính.
Phân tích khả năng quản trị rủi ro thanh khoản của Moody's bắt đầu bằng việc đánh giá mức độ các tài sản không có khả năng thanh khoản của ngân hàng được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ có ổn định hay không (chủ yếu là các khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, nợ dài hạn hay vốn cổ phần). Những ngân hàng có nguồn tài trợ ổn định vượt trội các tài sản kém thanh khoản nhìn chung đối mặt với rủi ro thanh khoản thấp.
6. Tham vọng rủi ro thị trường
Khi đánh giá tham vọng rủi ro thị trường của ngân hàng, giả định của chúng tôi là đối với một tham vọng rủi ro lớn hơn, họ cũng kỳ vọng đạt được một tỷ suất sinh lợi lớn hơn. Vì tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong trường hợp này gia tăng tính biến động thu nhập và vì vậy quy mô của các khoản tổn thất tín dụng tiềm ẩn không được mong đợi gia tăng và ngược lại.
Người ta có thể cho rằng, thực tiễn quản trị rủi ro làm cho nhà quản trị chọn mức độ rủi ro tương thích với rủi ro mục tiêu của toàn ngân hàng và hạng mức tín nhiệm mà nó mong muốn duy trì. Cách đánh giá năng lực quản trị rủi ro của Moody's nhằm vào đánh giá mối quan hệ giữa tham vọng rủi ro và khả năng quản trị rủi ro của nó.
Mục tiêu của Moody's khi phân tích rủi ro thị trường là đánh giá độ nhạy của các khoản mục kinh doanh đối với các biến tài chính chính yếu bao gồm lãi suất, giá cổ phần, tỷ giá hối đoái và độ trải rộng tín dụng (credit spread). Chúng tôi xem xét kết quả thông qua kiểm định mô phỏng tình trạng kiệt quệ tài chính hoặc đo lường các tài sản có rủi ro (economic capital) hoặc nếu không có giá trị, chúng tôi tìm kiếm các thước đo rủi ro thị trường khác như VaR hoặc phân tích độ nhạy cảm lãi suất
NHÂN TỐ 3: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ
Moody tin rằng sức mạnh tài chính của một ngân hàng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các luật lệ ngân hàng. Sức mạnh tài chính của một ngân hàng thường được cải thiện cùng với sự tồn tại một hệ thống luật pháp ngân hàng độc lập được tín nhiệm các điều khoản phù hợp với thực tiễn toàn cầu và được giải thích rõ ràng. Mục tiêu chính của hệ thống pháp lý ngân hàng thường tập trung bảo vệ người gửi tiền vào ngân hàng và thúc đẩy xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh để hỗ trợ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1. Tính độc lập
Khi đánh giá môi trường pháp lý, đầu tiên chúng tôi xem xét sự độc lập của các nhà làm luật mà chúng tôi tin tưởng là cần thiết đối với một hệ thống pháp lý ngân hàng hiệu quả. Từ đó, chúng tôi mở rộng xem xét các tiêu chuẩn và luật lệ có bị tác động bởi các ngành kinh doanh hay yếu tố chính trị không, các luật lệ có dễ hiểu và rõ ràng hay không
2. Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn ngân hàng được ban hành nhằm gia tăng tính minh bạch và cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Để đánh giá các tiêu chuẩn này, chúng tôi dựa trên các tiêu chuẩn thực hành tốt nhất mà được ban hành bởi Basel.
Nhiều nhà làm luật đã mở rộng các tiêu chuẩn do Basel ban hành và trông có vẻ tốt về mặt lý thuyết, nhưng chúng lại không theo sát và không có hiệu lực trong thực tế. Một số nhà làm luật thì ngầm thông qua các luật lệ bất thành văn và thuyết phục về mặt đạo đức nghề nghiệp, nhưng chúng lại rất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu thiếu sót các luật lệ và tiêu chuẩn được ban hành, thì tính độc lập của các nhà làm luật và chất lượng giám sát nhất thiết phải được nâng cao lên nhiều lần.
Theo quan điểm của Moody's, các nhà làm luật nên thiết lập các tiêu chuẩn về cấp phép thành lập, vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản.
a. Cấp phép thành lập: Các tiêu chuẩn để được cấp phép hoạt động quan trọng bởi vì các ngân hàng được thành lập mới luôn có rủi ro cao hơn các ngân hàng đã đi vào hoạt động ổn định. Một số lượng lớn các ngân hàng đăng ký mới không được quản lý và giám sát cẩn thận có thể tạo ra rủi ro đáng kể không chỉ đối với ngân hàng đó mà còn đối với cả hệ thống ngân hàng.
b. Yêu cầu vốn tối thiểu là phấn thiết yếu trong các luật lệ ngân hàng, chúng tôi xem xét các ngân hàng có thi hành hiệp ước vốn Basel một cách thận trọng hay không
c. Chất lượng tài sản: Các nhà làm luật thiết lập các tiêu chuẩn về chất lượng tài sản và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Chúng tôi xem xét định nghĩa của ngân hàng về nợ xấu có thận trọng và đồng nhất hay không, các hướng dẫn dự phòng tổn thất tín dụng, tái phân loại nợ và các bút toán xóa nợ có đáng tin cậy hay không, các điều khoản hạn chế cho vay số lượng lớn đối với các thành phần có liên quan đến nhân viên cấp cao trong ngân hàng...
d. Tính thanh khoản: Vấn đề này đã được đề cập ở trên, nhưng ở đây chúng tôi nói về khía cạnh pháp lý của nó. Tức là các nhà làm luật có hướng dẫn và yêu cầu quản trị thanh khoản không, có yêu cầu báo cáo thường xuyên về vị thế thanh khoản không, các ngân hàng có kế hoạch đối phó với các tính huống xấu xảy ra bất ngờ như khi không thể thâm nhập thì trường vốn trong một thời gian dài hay khi xảy ra các cú sốc kinh tế hay không.
3. Sự giám sát (không đề cập)
4. Sự cưỡng chế thi hành (không đề cập)
5. Sự trưởng thành của hệ thống pháp luật (không đề cập)
6. Sức khỏe của hệ thống ngân hàng
Như đã ám chỉ ở trên, sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia có tương quan với sức mạnh của môi trường pháp lý ngân hàng. Trong khi sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng phải chịu tác động từ sự biến đổi các nhân tố vĩ mô vượt ngoài tầm kiểm soát của các nhà làm luật, sự tồn tại luật lệ ngân hàng và hệ thống giám sát hiệu quả, đáng tin cậy và tiên phong có thể giúp ngân hàng khắc phục được phần nào các bất lợi này.
NHÂN TỐ 4: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường bị chi phối bởi môi trường kinh doanh của nó, và ở những nơi mà các điều kiện đặc biệt khó khăn, các ngân hàng thường được nói là nạn nhân trong môi trường của họ. Chu kỳ kinh tế khắc nghiệt, các quyết định mang tính chính trị gây nguy hại cho hoạt động kinh doanh, hệ thống luật pháp yếu kém và môi trường cạnh tranh không công bằng có thể tác động riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau làm suy yếu khả năng thanh toán của ngân hàng. Trong nhiều nhân tố, Moody's tin rằng các nhân tố chính là biến động của nền kinh tế, hiệu quả của hệ thống pháp luật, hiệu quả của các tổ chức chính trị và xã hội, động lực cạnh tranh và cấu trúc ngành ngân hàng
Trong phân tích ban đầu của chúng tôi về môi trường kinh doanh để cho điểm sức mạnh tài chính tập trung vào 3 thước đo khác nhau, tất cả chúng đều có thể được định lượng. Chúng tôi chọn các thước đo này như là cách tốt nhất để nắm bắt các khác biệt lớn trong các môi trường kinh doanh khác nhau. Thực tế, Moody's đánh giá môi trường kinh doanh của một nước ít nhất một lần trong mỗi năm. Đánh giá đó sẽ được áp dụng đối với tất cả các ngân hàng hoạt động trong cùng hệ thống. Đối với những ngân hàng có một phần tài sản hoặc lợi nhuận đáng kể (hơn 20%) từ quốc gia khác (quản lý trực tiếp hoặc công ty con), chúng tôi sẽ tính toán điểm môi trường kinh doanh đối với mỗi nhân tố phụ dựa trên hỗn hợp tài sản và lợi nhuận của nó. Từ đó, phản ánh môi trường kinh doanh tổng thể của ngân hàng
1. Tính ổn định của nền kinh tế
Một sự sụt giảm lớn trong tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan với sự suy yếu trong chất lượng tài sản. Vì vậy, khi tất cả các điều kiện khác là như nhau, những quốc gia với các chu kỳ kinh tế biến động mạnh hơn thì rủi ro hơn đối với các hoạt động kinh doanh.
Chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp hóa cao thường biến động ít hơn, với tăng trưởng GDP tăng giảm từ 1 -2% trong suốt 2/ 3 của 20 năm qua. Các nền kinh tế đang phát triển biểu hiện sự biến động mạnh hơn trong chu kỳ kinh tế, với độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP trong khoảng 7 -12%. Dựa trên độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa, chúng tôi tính điểm nhân tố "Tính ổn định của nền kinh tế" cho mỗi quốc gia.
2. Liêm chính và tham nhũng
Tham nhũng có thể làm cho môi trường kinh doanh không thể dự báo được và lãng phí. Tham nhũng trong nền kinh tế tạo ra khó khăn đối với các ngân hàng, thậm chí ngay cả khi hoạt động kinh doanh trong nội bộ của nó không có tham nhũng.
Tại cấp độ vĩ mô, tham nhũng gây lãng phí và các nguồn lực không được phân phối đúng nơi, vì vậy giới hạn tăng trưởng kinh tế. Tại cấp độ vi mô, tham nhũng có thể làm hủy hoại thông tin kế toán và các thông tin khác mà các quyết định tín dụng được đưa ra dựa trên các thông tin đó.
Bởi vì rất khó để có thể đánh giá chính xác mức độ tham nhũng dựa trên các dữ liệu thô. Vì vậy, chúng tôi chọn chỉ số Khả năng kiểm soát tham nhũng của World Bank (WB CC) - chỉ số nhằm xếp hạng mức độ sử dụng tài sản công hay quyền lực chính trị để tư lợi trong mỗi quốc gia. Điểm số cho mỗi quốc gia sẽ dựa trên chỉ số này. (Việt Nam có điểm số là - 0.76 trong năm 2008, đứng thứ 167 trong 212 quốc gia được World Bank xếp hạng).
3. Hệ thống luật pháp
Phần lớn hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa trên các hợp đồng, khế ước vay nợ, các khoản bảo đảm, thế chấp, ký quỹ và các hợp đồng phái sinh. Hầu hết các nhà quản trị giảm nhẹ hoặc kiểm soát rủi ro dựa trên các dự báo và sự công bằng của hệ thống luật pháp. Giá trị tiền tệ theo thời gian cũng đặt ra một phần bù rủi ro dựa trên sự tiến triển của hệ thống luật pháp
Từ các lý do này, chúng tôi cho điểm hệ thống luật pháp của mỗi quốc gia căn cứ vào thời gian một ngân hàng chuyển nhượng xong quyền sở hữu bất động sản thế chấp khi khách hàng không thể trả được nợ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, thời gian này ít hơn một năm đối với các quốc gia có ngân hàng hiệu quả - tòa án thân thiện và luât lệ vững chắc. Tuy nhiên, những nơi mà tòa án không hiệu quả, tham nhũng hoặc bảo hộ cho lợi ích của các cá nhân, ngân hàng có thể tốn từ 5 -10 năm xử lý bất động sản thu hồi nợ, điều này có thể làm sụt giảm đáng kể giá trị các tài sản thế chấp của ngân hàng.
NHÂN TỐ 5: NỀN TẢNG TÀI CHÍNH
Nền tảng tài chính là cách tương đối dễ dàng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong phạm vi toàn cầu, bởi vì nhìn chung ngân hàng có hai hoạt động chính là mươn tiền và cho vay tiền. Moody's xem xét nhân tố nền tảng tài chính theo 4 nhân tố phụ sau: khả năng sinh lợi, tính thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, chất lượng tài sản.
1. Khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lời là yếu tố chính quyết định thành công hay thất bại dài hạn của một tổ chức tài chính. Nó đo lường khả năng tạo ra giá trị kinh tế và từ đó gia tăng các nguồn lực để duy trì hoặc cải thiện khả năng phòng chống rủi ro cho các chủ nợ. Moody's tin rằng sự tái tạo khả năng sinh lợi là biện pháp đầu tiên để chống lại các khoản thua lỗ tín dụng. Tuy nhiên, thu nhập cần được đo lường theo sự biến động. Trong các tỷ số của chúng tôi, chúng tôi tìm được tỷ số đảm bảo cho các chủ nợ trong khi đo lường thu nhập mà có liên quan với bảng cân đối tài sản và các rủi ro khác. Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thức được rằng các nhà quản trị ngân hàng có thể sẽ phải để tâm đến các nhu cầu của cổ đông. Mở rộng ra, các tỷ số như tăng trưởng ROE hay EPS sẽ tác động đến các chiến lược của ban quản trị, nên chúng tôi sẽ quan sát chúng để phán đoán các áp lực mà nhà quản trị phải đối mặt.
2. Tính thanh khoản
Tất thanh khoản hầu như luôn là nguyên nhân gần nhất làm cho các ngân hàng phá sản, trong khi thanh khoản mạnh giúp các ngân hàng yêu kém về các mặt khác có thể duy trì thỏa đáng nguồn tiền trong suốt thời gian khó khăn. Một trong những mục tiêu chính trong phân tích BSFRs là đánh giá khả năng tự tài trợ của nó khi gặp phải tính trạng suy kiệt tài chính.
3. An toàn vốn
So với hầu hết các ngành khác, ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao. Theo thống kê, các ngân hàng phá sản hều hết bởi thua lỗ trong danh mục cho vay, mô hình kinh doanh nghèo nàn hoặc lừa đảo. Các nhân tố này rốt cuộc đều làm suy giảm nguồn vốn, nhưng sự suy giảm vốn không phải là căn nguyên dẫn đến sự phá sản của ngân hàng. Như chúng tôi đã nói nhiều lần, vốn thì quan trọng, nhưng nó không phải là chỉ báo cho sức khỏe tín dụng, và vì vậy hiếm khi tác động đến mức xếp hạng. Thực tế, theo dữ liệu lịch sử, tỷ số đòn bẩy có tương quan dương với mức xếp hạng - các ngân hàng được xếp hạng cao có đòn bẩy cao hơn các ngân hàng được xếp hạng thấp hơn. Bởi vì chúng tôi tin rằng lợi ích từ mở rộng mô hình kinh doanh, một "hỗn hợp" các hoạt động kinh doanh được đa dạng hóa, quản trị rủi ro tốt và ổn định, thu nhập có thể dự báo được vượt trội các bất lợi do tỷ số vốn yếu gây ra.
Theo như các quy định đặt ra, các ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu an toàn vốn tối thiểu. Các ngân hàng có nguồn vốn thặng dư, vượt quá yêu cầu an toàn vốn tối thiểu có nhiều thuận lợi hơn khi thâm nhập thị trường vốn và cung cấp cho ban quản trị sự linh hoạt tài chính để nắm bắt các cơ hội thâu tóm, mua lại hay tái cơ cấu hoạt động.
Các tranh luận về nguồn vốn trở nên nổi bật hơn tại thời điểm xảy ra hoạt động thâu tóm. Bởi vì các tổ chức tài chính thường gia tăng đòn bẩy tài chính để tài trợ cho giao dịch này. Ở một khía cạnh khác, nguồn vốn cũng đáng chú ý hơn khi một ngân hàng có tình trạng tài chính yếu kém.
4. Hiệu quả hoạt động
Ngân hàng là ngành tập trung cao yếu tố công nghệ và con người, và chính sách cắt giảm chi phí là tiêu điểm chiến lược để các ngân hàng đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn. Sư gia tăng đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm ngân hàng làm cho việc tăng doanh thu trở thành một nhiệm vụ khó khăn. Phân tích của chúng tôi tập trung vào cả những nỗ lực của ban quản trị để kiểm soát và cắt giảm các chi phí, và kết quả đem lại thực sự.
5. Chất lượng tài sản
Chất lượng tài sản quyết định thu nhập trong tương lai của ngân hàng, tạo ra hay xói mòn nguồn vốn. Danh mục các khoản cho vay nhìn chung là thành phần lớn nhất trong bảng cân đối tài sản của một ngân hàng. Vì vậy, chất lượng các khoản cho vay được xem là thành phần chính quyết định khả năng trả nợ của ngân hàng.
CÁC TỶ SỐ ĐƯỢC CHỌN
Vì xếp hạng của Mody's phân loại rủi ro mà có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu. Nên bảng điểm của Moody's tập trung vào các tỷ số vừa có ý nghĩa trong đánh giá rủi ro tín dụng và vừa có thể tính toán được đối với hầu hết các ngân hàng trên thế giới. Để giảm biến động khi xét bất kỳ một giai đoạn riêng lẻ nào, chúng tôi chọn cách tính toàn các tỷ số trung bình trong 3 năm:
1. Khả năng sinh lợi
Thu nhập trước thuế và dự phòng thua lỗ tín dụng/ tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: lợi nhuận trước khi trích lập dự phòng phản ánh thu nhập cốt lõi của một ngân hàng, và đảm bảo cho việc bù đắp các khoản lỗ nếu có trong tương lai. Lợi nhuận được tính với tài sản sau khi đã điều chỉnh rủi ro, như là một khoản đảm bảo cho những người gửi tiền. Cách tính này cung cấp một đánh giá tốt hơn về rủi ro so với việc dùng tổng tài sản, bởi vì nó phản ánh rủi ro trong bảng cân đối và kế toán ngoài bảng. Dù sao, chúng tôi cũng biết rằng việc đánh giá tài sản rủi ro này vẫn chưa thật sự hoàn hảo. Khi dữ liệu về tài sản đã điều chỉnh rủi ro không thể tiếp cận được, chúng tôi sẽ tính nó dựa trên bảng cân đôi kế toán, kế toán ngoài bảng và các trọng số rủi ro tiêu chuẩn, những ước lượng này cũng tương đương tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro.
Thu nhập thuần/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: Thu nhập ở đây được tính sau tất cả các chi phí.
2. Tính thanh khoản
(Nguồn vốn từ thị trường trừ tài sản có tính lỏng)/ Tổng tài sản: Nguồn vốn từ thị trường bao gồm tất cả các khoản nợ ngắn và dài hạn. Tỷ số này thể hiện mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn bên ngoài
3. An toàn vốn
Tỷ số trong Basel I (Tier 1 Basel Regulotory Ratio): Đây là tỷ số theo Basel I được báo cáo bởi các ngân hàng (Nguồn vốn/ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro). Tỷ số này được ưa chuộng bởi vì nó gần với vốn cổ phần và không bao gồm nợ dưới chuẩn. Các khoản nợ dưới chuẩn thường không thể giảm thiểu thiệt hại trừ phi có tính thanh khoản cao, và chúng không cung cấp sự đảm bảo trước rủi ro mất khả năng thanh toán.
Vốn cổ phần hữu hình/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro: Chỉ số này phản ánh rủi ro của tài sản ngân hàng (trong và ngoài bảng cân đối kế toán). Vốn cổ phần hữu hình được tính bằng tổng vốn cổ phần trừ đi các khoản : cổ phần ưu đãi, lợi ích cổ đông thiểu số, dự phòng lãi lỗ chưa thực hiện từ kinh doanh chứng khoán, dự phòng định giá lại tài sản, điều chỉnh dòng tiền phát sinh chưa thực hiện từ các công cụ phái sinh, lợi thế thương mại và các tài sản vô hình khác.
4. Hiệu quả hoạt động
Tỷ số này được đo lường bởi tổng chi phí không bao gồm lãi vay phải trả để tạo ra tổng thu nhập (mà được tính toán như Tổng thu nhập lãi thuần + Tổng thu nhập phi lãi vay bao gồm cả lợi nhuận hay thua lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán). Tỷ số này đo lường hiệu quả của ngân hàng và khả năng tạo ra lợi nhuận mà không cần phải gia tăng doanh thu
5. Chất lượng tài sản
Tỷ số nợ xấu/ Tổng nợ: Các khoản nợ xấu bao gồm các khoản cho vay sụt giảm giá trị như được định nghĩa tại IAS 39, dành cho các ngân hàng kế toán theo IFRS hoặc hệ thống kế toán tương tự; hoặc các khoản cho vay không tích lũy + các khoản cho vay tích lũy quá hạn 90 ngày hoặc nhiều hơn đối với các ngân hàng kế toán theo tiêu chuẩn của Mỹ hoặc các hệ thống kế toán tương tự; đối với các ngân hàng không kế toán theo IFRS, Moody's sẽ ước lượng mức độ các khoản cho vay có vấn đề bằng cách phân loại các nợ của ngân hàng.
Tỷ số Nợ xấu/ (Vốn cổ phần thường + Dự phòng tổn thất tín dụng): Chúng tôi cộng các khoản Dự phòng tổn thất tín dụng vào mẫu số hơn là trừ ra khỏi tử số, để dễ so sánh đối với các ngân hàng khác nhau về chính sách dự phòng và xóa bỏ tài sản (write-off).
(Hết)
Lê Tất Thành - www.rating.com.vn
Lược dịch dựa trên bản xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng của Moody's (2006)
[XHTN] Các phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp điển hình trên thế giới - Phần 1
Xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp xếp hạng tín dụng chính là mô hình toán học và phương pháp chuyên gia:
1. Mô hình toán học xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
Trước khi quyết định đánh giá tín nhiệm và ước lượng rủi ro tín dụng phát triển thành những mô hình toán học và thống kê, việc cấp tín dụng hoàn toàn dựa trên phương pháp xét đoán. Phương pháp này sử dụng mọi loại thông tin liên quan đến khách hàng mà các chuyên viên tín dụng thấy cần thiết và dùng các phán đoán chủ quan để đánh giá rủi ro.
Phương pháp xét đoán do vậy có nhiều thiếu sót. Đầu tiên, phương pháp không đáng tin cậy vì nó phụ thuộc vào cách thức của mỗi chủ nợ; thứ hai, quyết định có thể thay đổi từ người này sang người khác nên khó tranh luận và truyền thụ; thứ ba là không thể giải quyết với số lượng lớn hoặc phải duy trì một hệ thống chuyên viên phân tích chi phí cao.
Vì vậy, khi có sự phát triển của khoa học thống kê, những phương pháp phân tích, phân lớp và dự báo nhanh chóng được ứng dụng và đã bổ sung hiệu quả cho phương pháp truyền thống, từ lượng hóa các chỉ tiêu đến dự báo rủi ro tín dụng . Hiện nay, các ứng dụng thống kê trong xếp hạng tín nhiệm lại đang chuyển mình từ mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro tín dụng sang mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ nợ (chủ yếu là các ngân hàng).
1.1. Chỉ số Z của Edward I. Altman
Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I. Altman (1968), Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ. Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian... Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA).
Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:
| X1= | Vốn luân chuyển |
| Tổng tài sản |
- Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
- Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1
| X2 = | Lợi nhuận giữ lại |
| Tổng tài sản |
- Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian.
- Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này. Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận. Theo một nghiên cứu của Dun & Bradstreet (1993), khoảng 50% công ty phá sản chỉ hoạt động trong 5 năm.
| X3 = | EBIT |
| Tổng tài sản |
- Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó. Vì vậy, tỷ số này, theo Atlman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lợi.
| X4 = | Giá thị trường của vốn cổ phần |
| Giá sổ sách của nợ |
- Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
- Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi
- Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Đây là một phiên bản đã được sửa đổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của trái phiếu (1959). Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao.
- Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị sổ sách của vốn cổ phần.
| X5 = | Doanh thu |
| Tổng tài sản |
- Đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác.
- Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao.
- X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau.
Một số nghiên cứu vào thập niên 1960 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là tỷ số rất tốt để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòng tiền và khấu hao của các doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số Z của Altman không bao gồm các tỷ số có liên quan đến dòng tiền. Điều này khá phù hợp với thực trạng về thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hơn nữa chỉ số Z đã được sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác 95% đối với mẫu dữ liệu) và nhiều nước khác thì rất có thể cũng sẽ thực hiện tốt tại Việt Nam trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay dự báo phá sản.
Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5
- Nếu Z >2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.8<>
- Nếu Z <1.8:>
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z' = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
- Nếu Z' > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.23 <>
- Nếu Z' <1.23:>
Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra.
Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
- Nếu Z" >2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.2 <>
- Nếu Z <1.1:>
Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 700 công ty để cho ra chỉ số Z" điều chỉnh:
Z"điều chỉnh = 3.25 + Z" = 3.25 + 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S&P. Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp chuyên gia.
Nguồn: Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm"
Để xem xét chỉ số Z hoạt động như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam, tác giả lấy ví dụ về Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) - công ty niêm yết điển hình có nhiều triệu chứng đang trước ngưỡng phá sản trong năm qua (Tháng 7/2008, Ngân hàng Hàng hải Việt Nam bắt đầu gửi thông báo nợ quá hạn đến BBT).
BBT đã cổ phần hóa từ năm 1997 và là công ty sản xuất nên áp dụng công thức:
Vì trong hai năm 2006 và 2007, các cổ đông không biết là BBT bị lỗ, cộng với tính không hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nên giá cổ phiếu vẫn gia tăng theo thị trường. Nếu giá thị trường không thay đổi gì so với năm 2005 thì chỉ số Z năm 2006 và 2007 lần lượt là 1.64 và 1.04, tức là chỉ số Z giảm dần từ 2.41 điểm (2002) đến -0.41 điểm (2008).
Từ kết quả này, cho thấy, chỉ số Z phản ánh gần sát với tình trạng thực tế mà BBT đang gánh chịu và cũng minh chứng phần nào tính hữu dụng của chỉ số Z nói riêng và mô hình toán học dự báo phá sản nói chung tại Việt Nam. Tuy nhiên, để ứng dụng tốt vào thực tế thì chỉ số Z hay các mô hình định lượng phải được hiệu chỉnh, được xây dựng trên dữ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam, qua kiểm định cụ thể thì hiệu quả mới chính thức được công nhận và nâng cao.
1.2. Chỉ số Zeta
Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ các trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:
| X1 = | EBIT |
| Tổng tài sản |
Tổng tài sản không bao gồm các lợi thế thương mại và tài sản vô hình trong các biến số của Zeta.
X2 = Mức ổn định thu nhập
- Chỉ tiêu này đo lường sai số chuẩn trong xu hướng của X1 trong vòng 5 đến 10 năm. Rủi ro kinh doanh thường được biểu hiện thông qua sự dao động của thu nhập nên biến số này tỏ ra có hiệu quả đặc biệt.
- Bên cạnh đó, Altman cũng đánh giá thông tin chứa đựng trong một vài biến số tương tự để đo lường những rủi ro có thể xảy ra đối với công ty. Những biến số này có ý nghĩa nhưng nó không được đưa vào mô hình
| X3 = | EBIT |
| Lãi vay |
- Tỷ số này được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa và làm cho khác biệt giữa các tỷ số không quá lớn.
- Lãi vay bao gồm lãi phải trả cho các tài sản thuê ngoài.
| X4 = | Lợi nhuận giữ lại |
| Tổng tài sản | |
| X5 = | Tài sản lưu động |
| Tổng tài sản | |
| X6= | Vốn cổ phần thường |
| Tổng vốn |
- Vốn cổ phần thường được tính bằng giá trị thị trường bình quân trong thời gian 5 năm.
- Tổng vốn = Vốn cổ phần thường + cổ phần ưu đãi + nợ + tài sản thuê ngoài đã được vốn hóa.
- Biến số này được điều chỉnh tùy theo những thay đổi trong báo cáo tài chính.
- Quy mô tài sản cũng được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa phân phối của biến.
- Mô hình này được nhiều ngân hàng ở các nước áp dụng và phát triển thành các mô hình khác để xếp hạng khách hàng đi vay như mô hình mạng nơ ron thần kinh (neural network), mô hình dựa trên mức tăng giá thị trường...
2. Edward I. Altman (1968), "Financial ratios, discriminant analysis and the prediction of corporate bankruptcy", The Journal of Finance
3. Edward I. Altman (2000), "Predicting Financial Distress Of Companies: Revisiting The Z-Score And Zeta® Models", New York University
4. Edward I. Altman, "The use of credit scoring models and the important of a credit culture", New York University
5. Fitch (2006), "Corporate Rating Methodology", www.fitchratings.com
6. Moody's (2008), "Moody's Rating Symbols and Definations", www.moodys.com
7. Moody's (2008), "Moody's Financial MetricsTM Key Ratios by Rating and Industry for Global Non- Financial Corporations: 2008", www.moodys.com
8. Standard & Poor's (2008), "Corporate Ratings Criteria", Standard & Poor's
Kinh nghiệm triển khai Core Banking tại Ngân Hàng
Dự án Core banking có ít nhất 3 giai đoạn: trước, trong và sau khi triển khai dự án.
Sau đây là một số kinh nghiệm có được khi tham gia các dự án Core banking tại các ngân hàng khác.
1. Chuẩn bị cho dự án.
Trong giai đoạn đầu của dự án (giai đoạn chuẩn bị cho dự án và giai đoạn gọi thầu/chấm thầu/chọn thầu/ký kết) thì hai yếu tố nhân lực và tổ chức là rất quan trọng.
+ Về nhân lực:
- Thu hút nhân lực: đưa những người có kinh nghiệm, có kỷ năng từ bên ngoài vào tham gia dự án.
- Tổ chức nhân lực: sắp xếp hợp lý lực lượng nhân sự mới và nhân sự hiện có của ngân hàng để cùng nhau tham gia thực hiện dự án.
- Huấn luyện nhân lực: đào tạo các công nghệ mới cho nhân viên để chuẩn bị tiếp nhân hệ thống mới (nếu có thể).
- Lựa chọn Trưởng dự án có năng lực: có kiến thức về công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng,khả năng Anh ngữ, Luật, kỹ năng đàm phán thương thảo.
+ Về tổ chức:
- Tổ chức cơ cấu cho dự án, phòng ốc làm việc, các trang thiết bị cần thiết, lên kế hoạch hợp lý, chuyên môn hóa, phân định trách nhiệm quyền hạn rỏ ràng cho các thành viên trong ban dự án.
- Ngoài ra, nên tổ chức tốt hệ thống thông tin nội bộ để dễ dàng trao đổi thông tin khi triển khai dự án.
- Lập các quy trình xử lý theo hệ thống củ để dễ dàng cho việc định nghĩa các sản phẩm trong hệ thống mới.
2. Kế hoạch thực hiện dự án đã được ước lượng không thực tế.
Đây là yếu tố xuất phát từ nhiều vấn đề khác nhau, có thể là do năng lực của các bên tham gia trong việc xác định, ước lượng công việc và thời gian thực hiện, có thể là những khó khăn phát sinh ngoài ý muốn, ngoài tầm kiểm soát trong quá trình triển khai, các ảnh hưởng về chính trị trong tổ chức cố tình trì hoãn dự án…Ước lượng kế hoạch thực hiện không thực tế sẽ tạo nên những sự lệch lạc trong triển khai và hậu triển khai và kéo theo ảnh hưởng đến chất lượng của dự án.
Một trong những lý do chính là việc định nghĩa sản phẩm hoàn toàn do nhân viên ngân hàng thực hiện, vốn là những người lần đầu tiên làm quen và không có kinh nghiệm về chức năng và cách vận hành của hệ thống mới. Việc thiếu chuyên nghiệp của các chuyên gia đối tác trong giai đoạn này và các lỗi phát sinh do chương trình không được lập trình tốt cũng là nguyên nhân kéo dài thời gian thực hiện dự án.
Ngoài ra kế hoạch triển khai dự án phải hợp lý, đúng đắn. Tránh việc một chi nhánh được đưa vào vận hành hệ thống mới trong khi các phân hệ của hệ thống chưa được định nghĩa và kiểm tra đầy đủ.
3. Ngân hàng thực hiện dự án mà thiếu sự đồng lòng cam kết của người dùng.
Đây là một khó khăn thường gặp và không dễ vượt qua. Hầu hết các dự án đều gặp phải sự chống đối, không hợp tác, không đồng lòng, không sẳn lòng giúp đỡ từ người dùng bởi họ lo sợ chương trình mới sẽ làm tăng nguy cơ mất vị trí làm việc của họ hiện tại, nguy cơ tinh giảm lao động, nguy cơ quyền lực mất đi do kỹ năng trên hệ chương trình cũ không còn cần thiết…
Khó khăn này không hiện hữu trong thời gian đầu của dự án mà thường xuất hiện vào giai đoạn giữa dự án.
4. Cần có sự hướng dẫn, hỗ trợ của lãnh đạo ngân hàng trong suốt quá trình thực hiện dự án.
Hướng dẫn, hỗ trợ của lãnh đạo là rất cần thiết trong bất kỳ dự án nào, và đây cũng là yêu cầu xuyên suốt trong dự án. Hỗ trợ, hướng dẫn có thể thông qua nhiều hình thức: hỗ trợ về tiền bạc, cấp phát quyền hạn, chỉ định nhân sự, các chính sách nghị quyết, những cam kết, các động viên…
5. Vai trò người tham gia dự án (Core team) phải được định nghĩa tốt trong dự án của ngân hàng.
Định nghĩa vai trò người tham gia dự án là việc quan trọng vì chúng đảm bảo công việc dự án được phân chia, được chuyên môn hóa và có sự phối hợp nhịp nhàng. Thêm vào đó, việc phân chia định nghĩa còn mang theo ý nghĩa trách nhiệm và chất lượng công việc do vậy sẽ cao lên. Thường thì vai trò của người tham gia dự án được định nghĩa trong giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn triển khai dự án.
Nếu không làm tốt sẽ ảnh hưởng nhiều đến giai đoạn triển khai và hậu triển khai.
6. Không có đủ các người dùng cuối (end-user) tham gia trong core team của dự án.
Người dùng cuối (end-user) là những người sẽ trực tiếp sử dụng chương trình mới, trong đó có thể bao gồm cả những người đang sử dụng chương trình hiện tại. Sự tham gia của người dùng cuối vào dự án, nhất là trong giai đoạn phân tích, xây dựng và triển khai chương trình là rất quan trọng, nó đảm bảo được chương trình mới sẽ thân thiện, phù hợp công việc và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng cuối cùng. Thông thường người dùng cuối được tham gia vào trong quá trình đào tạo người dùng, phân tích xây dựng hệ thống, tinh chỉnh, UAT…
Sự không tham gia của người dùng cuối sẽ gây nhiều khó khăn cho dự án, nhất là ảnh hưởng đến chất lượng của chương trình và ảnh hưởng đến một trong những yếu tố thành công của dự án là: kết quả của dự án phải đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng cuối cùng.
7. Những trì hoãn thường xuất hiện trong dự án hiện đại hóa tại các ngân hàng.
Những trì hoãn trong dự án được xem là tất cả những yếu tố thuộc dự án hoặc không thuộc dự án có tác động đến tiến độ thực hiện dự án. Những yếu tố thuộc dự án phát sinh phần lớn do dự án không có được sự chuẩn bị tốt, những yếu tố ngoài dự án có thể là việc thay đổi cơ cấu nhân sự hay phòng ban ảnh hưởng đến nhân sự của dự án, những thay đổi từ phía các bên hữu quan đến dự án như các yêu cầu của ngân hàng nhà nước, các phát sinh trong các hệ thống liên quan đến hệ thống ngân hàng lõi…
Trì hoãn thường xuất hiện trong giai đoạn đấu thầu và triển khai
8. Các bên tham gia trong dự án (Ngân hàng, Đối tác, và Đối tác địa phương) có quan hệ công việc không tốt.
Quan hệ không tốt có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: che dấu công nghệ, kỹ năng; phong cách làm việc; bất đồng ngôn ngữ – văn hóa…Những hệ lụy từ mối quan hệ xấu này là chất lượng công việc sẽ bị ảnh hưởng, nhất là các công việc cần có sự tham gia của nhiều bên.
Khó khăn này thường xảy ra vào giai đoạn triển khai và sẽ kéo dài thường là đến hết dự án.
9. Vấn đề biến động nhân sự trong dự án là khá lớn tại các ngân hàng.
Nhân sự tham gia dự án hiện đại hóa hiện nay tại Việt nam thường gồm hai phần. Phần của chính ngân hàng và phần ngân hàng mời từ các ngân hàng bạn hay các tổ chức liên quan khác về. Những biến động nhân sự thường xảy ra nhiều trong giai đoạn cuối của dự án khi áp lực dự án lên cao, khi những ý kiến cá nhân của các chuyên viên không được thừa nhận, khi những cam kết về quyền lợi từ ngân hàng không được thực hiện tốt…
Biến động nhân sự, nhất là trong những giai đoạn cuối của dự án là điều rất nên tránh bởi các nhân lực ra đi là những nhân lực nắm rỏ hệ thống và không thể một sớm một chiều có thể thay thế được. Đây là điều nên tránh trong những giai đoạn cuối của dự án.
10. Không thực hiện sưu liệu cho dự án
Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong giai đoạn triển khai và hậu triển khai, nếu không thực hiên, hoặc thực hiện không tốt việc lập sưu liệu cho hệ thống. Những thay đổi nhân sự, vấn đề đào tạo người dùng, các hướng dẫn sử dụng chương trình,quy trình xử lý nghiệp vụ, các bảng thông số của hệ thống phục vụ cho vận hành, xử lý...sẽ không thành vấn đề nếu ban dự án thực hiện tốt việc lập sưu liệu cho dự án.
Tai Việt nam đây là yếu tố thường bị bỏ qua hoặc làm cho có.
11. Yếu kém trong đào tạo người dùng cuối.
Đào tạo người dùng là một trong những phần quan trọng trong triển khai hệ thống core – banking của bất kỳ nhà cung cấp phần mềm nào. Đây là giai đoạn các nhân viên trong core-team (các người dùng được tuyển chọn và ưu tú của ngân hàng đã được tiếp nhận hệ thống mới) đào tạo lại cho các người dùng cuối trong ngân hàng. Ngân hàng không thực hiện tốt khâu đào tạo này sẽ gặp rất nhiều khó khăn sau này khi vận hành chương trình. Những vấn đề phát sinh do các người dùng cuối không được đào tạo kỹ lưỡng (do vậy không nắm vững được cơ chế sử dụng vận hành chương trình) là rất nhiều và gây nên nhiều bất mãn cho ban dự án, cũng như gây mâu thuẫn giữa các phòng ban và ban dự án.
12. Chất lượng nhân sự và chất lượng trưởng dự án.
Đây là khó khăn liên quan nhiều đến công tác chuẩn bị nhân lực cho dự án của ngân hàng. Như đã đề cập ở trên, dự án hiện đại hóa công nghệ ngân hàng làm việc với các nhà thầu quốc tế rất cần các kiên thức chuyên môn khác ngoài kiến thức về công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng chẳng hạn như khả năng Anh ngữ, Luật, kỹ năng đàm phán thương thảo. Thông thường những kỹ năng này quy tụ hầu hết ở Nhà quản trị dự án của ngân hàng (Project Manager) và phần còn lại nằm trong đội ngũ core-team. Không có được một đội ngũ có chất lượng, kinh nghiệm thực hiện dự án , ngân hàng sẽ gặp rất nhiều thiệt thòi trong thương thảo, đàm phán với các nhà thầu nước ngoài
13. Tránh tư tưởng “làm đến đâu hay đến đó” hoặc tư tưởng “làm cho có làm rồi tính sau”
Tư tưởng này phần xuất phát từ yếu tố chạy theo thành tích, làm để báo cáo với cấp trên chứ không phải đúng nghĩa làm. Phần nữa xuất phát từ văn hóa, tác phong làm việc của từng ngân hàng mà sẽ xuất hiện và ảnh hưởng nhiều ít khác nhau. Điều này rỏ ràng gây nên nhiều khó khăn cho dự án trong việc sửa lỗi, bảo trì hay nâng cấp sau này. Đôi khi còn ảnh hưởng đên chất lượng vận hành của hệ thống và gây nên những mâu thuẫn trong triển khai khi những tư tưởng làm việc trái ngược gặp nhau.
14. Đối tác (nhà cung cấp phần mềm) kém
Đối tác thầu kém được hiểu như đối tác không đủ nhân lực hoặc không đưa nhân lực đủ năng lực để thực hiện dự án. Ngoài ra còn có các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến năng lực kém của đối tác như tác phong làm việc, khả năng thích nghi với văn hoá làm việc tại Việt Nam, quan hệ trong công việc, sự nhiệt tình, trung thực … Chất lượng của nhà thầu địa phương cũng ảnh hưởng lên yếu tố này nhiều. Ảnh hưởng của khó khăn này là rỏ ràng vì chất lượng triển khai và hậu triển khai sẽ kém.
15. Các tiêu chuẩn đánh giá đối tác không rỏ ràng.
Các tiêu chuẩn đánh giá nhà thầu và giải pháp của nhà thầu là điều cần thiết để so sánh, lựa chọn nhà thầu. Hơn nữa còn là căn cứ để giải thích cho một số việc sau này. Các tiêu chí đó cũng được dùng trong suốt dự án để kiểm nghiệm và theo dõi nhà thầu. Tiêu chuẩn đánh giá không rỏ ràng sẽ không giúp ngân hàng thể hiện được những mong muốn, các yêu cầu cho hệ thống mới, cũng như không giúp ngân hàng có được sự lựa chọn nhà thầu chính xác, phù hợp với các nhu cầu về hệ thống mới của ngân hàng. Khó khăn này sẽ ảnh hưởng nhiều, thậm chí rất nhiều đến dự án sau này.
16. Không đảm bảo được đối tác có được các kinh nghiệm cần thiết trong các dự án tương tự trước kia
Đây là một tiêu chí tương đối phức tạp nếu làm việc với nhà thầu nước ngoài. Thông thường hiện tại các nhà cung cấp giải pháp thường hoạt động trong lĩnh vực rất nhỏ nên việc kiểm soát kinh nghiệm phức tạp ở chỗ là ngân hàng không kiểm soát được nhân lực của nhà thầu cử qua tham gia dự án chứ không phải kinh nghiệm của nhà thầu nói chung, vì các nhà thầu này đều mang tầm quốc tế với kinh nghiệm triển khai là rất tốt. Thông thường, yếu tố này chỉ làm cho chất lượng triển khai giảm xuống
17. Thiết kế nói chung không tốt (cơ sở dữ liệu, mạng, kiến trúc hệ thống…)
Thiết kế hệ thống nói chung là những thiết kế hay những quyết định có liên quan đến công nghệ thông tin trong giai đoạn triển khai dự án. Quyết định chọn bao nhiêu server làm application server khi hệ thống chạy chậm, quyết định cách thức lưu trữ và phục hồi dữ liệu thế nào cho hợp lý, sử dụng các giải pháp dự phòng nào trong trường hợp đường truyền hỏng, hư hỏng database là những vấn đề thuộc thiết kế.
Những quyết định không tốt về thiết kế tuy không ảnh hưởng nhiều đến tính chính xác của hệ thống nhưng chắc chắn sẽ liên quan đến khả năng thực hiện nhanh, chậm của dự án (performance), quy trình xử lý, vận hành sau này…
18. Tầm quan trọng của giai đoạn chạy thử (User Acceptance Testing - UAT).
Sau khi định nghĩa sản phẩm, các nhân viên trong core team phải chạy kiểm tra trên hệ thống tạm thời; nếu ổn định, mới đưa sang hệ thống chính thức. Phải chuẩn bị tốt kế hoạch chạy thử :
+ Về nghiệp vụ:
- Phải chuẩn bị số liệu đầu vào cho các trường hợp có thể xảy ra khi sử dụng sản phẩm mới, và kiểm tra số liệu đầu ra có đúng không.
- Phải kiểm tra xem “Bản hướng dẫn sử dụng” (User guide) có tính hết và ngăn ngừa mọi trường hợp sai lầm khi người dùng cuối thao tác trên hệ thống mới để tránh đưa vào hệ thống những dữ liệu sai.
- Phải xây dựng quy trình xử lý các nghiệp vụ (procedure) trên hệ thống mới để phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra và người dùng cuối dể dàng xử lý theo đúng quy trình đã được định trước.
+ Về công nghệ thông tin :
- Phải kiểm tra các trường hợp có sự cố trên hệ thống như đứt đường truyền, mất điện, virus,…
- Phải kiểm tra các trường hợp có sự cố, hư hỏng trên database …
- Và phải tìm ra biện pháp xử lý thích hợp, lập sưu liệu và tập huấn cho nhân viên IT có thể giãi quyết khi sự cố xảy ra trên môi trường tạm thời.
Nếu sau giai đoạn này, các sự cố nếu xảy ra khi vận hành trong hệ thống chính thức sẽ gặp rất nhiều khó khăn hoặc mất nhiều thời gian cho việc khắc phục sự cố đó. Do đó cần phải chuẩn bị và thực hiện thật tốt giai đoạn này.
19. Chuyển giao công nghệ.
Đây là một vấn đề cần phải quan tâm khi chúng ta làm việc với nhà thầu nước ngoài, vì chúng ta không những học hỏi từ họ những kiến thức về công nghệ thông tin mà còn học từ họ những kiến thức về công nghệ ngân hàng.
Vì thế trong quá trình triển khai dự án, chúng ta phải nhanh chóng nắm bắt các công nghệ mới và làm chủ được nó. Để khi các chuyên gia nước ngoài rời khỏi ngân hàng, nhân viên nghiệp vụ có thể tự mình định nghĩa được sản phẩm mới, nhân viên IT phải tự mình xử lý những sự cố xảy ra trong quá trình vận hành hệ thống hoặc cài đặt hệ thống cho những chi nhánh mới.
Qua kinh nghiệm làm việc với hai nhà thầu nước ngoài là Temenos và Iflex, hai nhà cung cấp phần mềm T24 và Flexcure, thì công ty Temenos có xây dựng một quy trình chuyễn giao công nghệ rất rỏ ràng và hợp lý. Còn ở công ty Iflex, dù có ghi trên văn bản là sẽ chuyễn giao công nghệ, quy trình này không rỏ ràng và phụ thuộc rất nhiều vào chuyên gia trực tiếp làm việc trong dự án.
20. Bản quyền phần mềm.
Bản quyền phần mềm có hai phần. Phần của các nhà cung cấp giải pháp như Temenos, IFlex. Phần còn lại là của hệ thống và cơ sở dữ liệu như IBM, Microsoft, Oracle, …Thông thường, bản quyền phần mềm của hệ thống và cơ sở dữ liệu được bán theo số lượng người sử dụng phần mềm đó hoặc số lượng CPU sử dụng phần mềm đó. Còn bản quyền phần mềm của nhà cung cấp giải pháp như Temenos, Iflex được bán theo số lượng người khai thác phần mềm đó hoặc số chi nhánh khai thác phần mềm đó.
Qua kinh nghiệm làm việc với hai ngân hàng đã mua bản quyền phần mềm của Temenos và Iflex theo số lượng người khai thác. Và chưa đầy một năm đưa vào vận hành khai thác T24 và Flexcure thì số lượng người dùng hệ thống đã gần bằng số người được dùng theo hợp đồng mua bản quyền phần mềm. Do đo, cần xem xét khi mua bản quyền phần mềm theo số lượng người dùng, chúng ta phải dự báo tốt số lượng người dùng trong tương lai hoặc xem xét việc mua bản quyền theo số lượng chi nhánh khai thác phần mềm.
Đặc biệt hơn, để bảo vệ bản quyền phần mềm của mình, công ty Temenos có cơ chế mật khẩu bản quyền. Khi cài đặt, vận hành hệ thống, người quản trị hệ thống phải nhập vào mật khẩu bản quyền thì mới cài đặt hoặc vận hành hệ thống được. Vấn đề này cần được quan tâm nếu chúng ta làm việc với nhà thầu nước ngoài này, để tránh lệ thuộc vào họ nếu mật khẩu bản quyền này có thời hạn chấm dứt theo chu kỳ.
21. Hạt nhân của phần mềm.
Thông thường, một phần mềm được xây dựng bằng cách mô hình hóa từ thực tế các hoạt động của một đối tượng.Do đó, tùy theo góc nhìn nào đó của nhà thiết kế hướng vào đối tương mà họ sẽ xây dựng phần mềm trên hạt nhân đó.
Các nhà thiết kế của công ty Temenos đặt trọng tâm của mình là khách hàng và sau đó xây dựng các yếu tố khác phục vụ cho trọng tâm đó. Còn các nhà thiết kế của công ty Iflex lại đặt trọng tâm vào hệ thống tài khoản.
Nếu ta nắm bắt được vấn đề này và tập trung xây dựng thật tốt hạt nhân của phần mềm thì mọi yêu cầu về việc sửa lỗi, bảo trì hay nâng cấp sau này sẽ dễ dàng hơn.
Nguồn : www.tuoitreangiang.com
[XHTN] Xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam
Xếp hạng tín nhiệm là việc các tổ chức xếp hạng đưa ra “đánh giá” của mình về khả năng thanh toán nợ của các nhà phát hành các công cụ nợ (như trái phiếu, thương phiếu,...). Tại Việt Nam, vẫn còn nhiều người chưa hiểu đúng khái niệm này. Một trong những ví dụ đó là một số người còn cho rằng “cần thiết phải có xếp hạng tín nhiệm để có thể đầu tư vào cổ phiếu”.
Hiểu lầm về “xếp hạng tín nhiệm”
Trên thực tế, hầu như việc xếp hạng tín nhiệm không giúp ích gì cho nhà đầu tư khi họ phân tích cổ phiếu, vì chỉ số tín nhiệm cho thấy khả năng thanh toán nợ chứ không phải là khả năng tăng trưởng hay lợi nhuận, những điều và các nhà đầu tư cổ phiếu quan tâm. Bên cạnh đó, xếp hạng tín nhiệm không chỉ cho thấy sự đáng tin cậy của công ty phát hành trái phiếu (hoặc các công cụ nợ khác) mà còn cho thấy những hình thức bảo đảm khác như là sự bảo lãnh bởi bên thứ 3, các khoản ký quỹ đi kèm với trái phiếu. Do đó, rất có thể trái phiếu của một công ty được một bên thứ 3 bảo lãnh được xếp hạng AAA nhưng nếu chỉ một mình công ty đó thì chỉ xếp hạng BBB.
Chất lượng xếp hạng và các tổ chức xếp hạng
Còn có nhiều sự khó hiểu ở Việt Nam cũng như các nước khác. Có ít nhất là 3 tổ chức ở Việt Nam được cho là cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, đó là Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng nhà nước VN CIC, Trung tâm khoa học thẩm định tín nhiệm doanh nghiệp CRC và Công ty thông tin và xếp hạng tín nhiệm C&R. Tuy nhiên theo như những báo cáo của họ thì dịch vụ mà CIC và C&R cung cấp giống như là của cơ quan thông tin tín dụng hơn là công ty xếp hạng tín dụng. Hai cơ quan này cung cấp thông tin về hồ sơ công ty (tên, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh, lịch sử hoạt động v.v, và xếp hạng của riêng họ. Tuy nhiên họ lại không đưa ra các tiêu chuẩn để xếp hạng. CRC có dịch vụ xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn chưa chính thức đưa vào hoạt động do vậy tác giả cũng chưa tìm thấy bản báo cáo xếp hạng nào. Hơn nữa, các công ty xếp hạng tín dụng có uy tín trên thế giới luôn công bố khả năng thanh toán nợ cho mỗi mức xếp hạng, cho nhà đầu tư thấy được mức độ tin cậy của đánh giá xếp hạng của họ. Những thông tin như vậy thường được gọi là nghiên cứu khả năng thanh toán nợ. Để cung cấp những thông tin như vậy cần phải thu thập dữ liệu trong vài năm, trên thực tế, các công ty xếp hạng tín dụng phải xây dựng dữ liệu bằng cách cung cấp miễn phí dịch vụ xếp hạng trong một vài năm đầu.
Thêm vào đó, cơ quan chủ quản của các công ty xếp hạng tín dụng cũng là một vấn đề. Vì các công ty xếp hạng cung cấp đánh giá xếp hạng cho chính phủ và các công ty phát hành trái phiếu do đó các công ty này không nên có cổ phần trong công ty xếp hạng. Tại Nhật Bản, khi công ty xếp hạng đầu tiên được thành lập, rất nhiều tổ chức tín dụng cùng muốn mua cổ phần tại công ty này nhưng không ai trong số họ được là cổ đông chính. Trong trường hợp của Việt Nam, nhiều người thấy khó có thể tin cậy những xếp hạng của CIC nếu CIC đưa ra các xếp hạng tín nhiệm cho các ngân hàng quốc doanh vì bản thân nó cũng là một bộ phận của NHNN có cổ phần ở các ngân hàng quốc doanh.
Việt Nam cần một khung pháp lý cơ bản
Dựa trên những vấn đề trên, chính phủ Việt Nam nên đưa ra một khung pháp lý tối thiểu cho hoạt động xếp hạng tín nhiệm trong nước. Như đã nói, đã có một vài tổ chức hoạt động xếp hạng tín nhiệm. Mặt khác, một số doanh nghiệp lớn khi phát hành trái phiếu đã thuê dịch vụ của các công ty xếp hạng hàng đầu thế giới. Về lý thuyết, không có luật nào quy định về các công ty xếp hạng tín nhiệm, các công ty phát hành trái phiếu (được quy định trong nghị định 52/2006) có thể thuê dịch vụ của một hay nhiều tổ chức xếp hạng trong nước, cho dù nó không tương thích lắm với các xếp hạng do các công ty nước ngoài đưa ra. Đánh giá xếp hạng do các công ty nước ngoài cung cấp có thể không giúp ích gì nhiều cho một số công ty vì chủ yếu các công ty của Việt Nam đều xếp hạng thấp từ BB đến BB. Do đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của VN cần những công ty xếp hạng trong nước có khả năng đưa ra các phân tích và số liệu sát thực với thị trường trong nước và được công nhận trên thế giới.
Xếp hạng tín nhiệm đã trở nên ngày càng quan trọng trong lĩnh vực tài chính và mức độ tin cậy của các công cụ nợ vẫn phản ánh các tập quán của thị trường đó, tác giả thấy rằng rất cần thiết phải xây dựng những công ty xếp hạng tín nhiệm tốt ở Việt Nam. Nói cách khác, nếu như không có một công ty xếp hạng tính dụng trong nước nào thì các doanh nghiệp Việt Nam phải dựa vào các công ty xếp hạng nước ngoài ngay cả khi phát hành trái phiếu trên thị trường trong nước.
Yoko Ogimoto
Theo Saga
Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010
[Film]Những đoạn phim ngắn của Pixar-HDrip.Bluray.720p.x264

http://www.mediafire.com/download.php?mkcdjxmxayt
http://www.mediafire.com/download.php?gyxmllmhwmz
BURN-E

http://www.mediafire.com/download.php?gzwymtuhz0t
http://www.mediafire.com/download.php?nejmgtdhguj
http://www.mediafire.com/download.php?izj2nomy2zw
http://www.mediafire.com/download.php?nt3g4nyjjng
For the Birds

http://www.mediafire.com/download.php?r1iyzyvzmto
http://www.mediafire.com/download.php?mqmdzory3mf
Geri's game

http://www.mediafire.com/download.php?n34twiyjwyz
http://www.mediafire.com/download.php?zzdhjehyzmn
Jack-Jack attack

http://www.mediafire.com/download.php?1f3gkfxzgjj
http://www.mediafire.com/download.php?yjjhou0gymg
Knick knack

http://www.mediafire.com/download.php?xqbwndywjzh
http://www.mediafire.com/download.php?enowerzmqjo
Lifted

http://www.mediafire.com/download.php?dnykwymmwhy
http://www.mediafire.com/download.php?zchznmwmmii
Luxo Jr.

http://www.mediafire.com/download.php?u2tjjntttiy
Mater and the ghostlight

http://www.mediafire.com/download.php?2in51noyymm
http://www.mediafire.com/download.php?ylmmomtgduk
http://www.mediafire.com/download.php?wykowrzwm1n
Mike's new car

http://www.mediafire.com/download.php?oz1meh20gwm
http://www.mediafire.com/download.php?iokmzwyrwl5
One man band

http://www.mediafire.com/download.php?vnkm0onyqnn
http://www.mediafire.com/download.php?ztd1kzydjoj
Presto

http://www.mediafire.com/download.php?azbjml2w2wz
http://www.mediafire.com/download.php?nywzu1ndzmm
Red's dream

http://www.mediafire.com/download.php?ewxgnqjjyda
http://www.mediafire.com/download.php?mynjin3wi2l
The adventures of André and Wally B

http://www.mediafire.com/download.php?mdo5nyjmyiz
Tin toy

http://www.mediafire.com/download.php?vyemvnmndnn
http://www.mediafire.com/download.php?14jimth32tk
Your friend the rat

http://www.mediafire.com/download.php?mmdjlckcq2d
http://www.mediafire.com/download.php?ghzt3mftant
http://www.mediafire.com/download.php?iwmz4wjdndm
http://www.mediafire.com/download.php?mv0jtoweudc
http://www.mediafire.com/download.php?m5rzwumlwom
-------------
Nguồn : ddtm
Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010
[SOFT] Cowon jetAudio 8.0.7
jetAudio is integrated multimedia software composed of a single compact rack. Not only does it play various music and video files, but it also has other features such as CD burning, recording, conversion to other file formats, and so on. In addition to these features, you have the ability to create your own Internet broadcasting by using JetCast, which is provided with JetAudio. Play all major file formats and discs, including WAV, MP3, MP3Pro, OGG, WMA, MPG, AVI, WMV, MIDI, RM, and video, and audio CD. Convert among audio file formats, and record analog audio to various formats. The program features Internet broadcasting with JetCast; visualization plug-ins, including Sound2Vision; tag editing for MP3, OGG, and WMA; various sound effects including wide, reverb, and x-bass; multichannel sound output; speed control of audio playback; crossfading for smooth transition between two songs; a skinnable user interface; synchronized lyrics display (karaoke) for MIDI and MP3 files; and subtitles.
Features:
- Supports All Major File Formats, Video Conversion, Audio CD burning, Recording, Tag Editing, Multi-channel sound ouput, Crossfade, Skin, Subtitles, Internet CD Database, Convenient album management & Playlist, Utilities, Remote Controller, Media Center Window, Audio Conversion, Audio CD Ripping, Internet Broadcasting, Various sound effects, Speed Control, Resume, Synchronized Lyric (Karaoke), Alarm & Timer, Equalizer, Superb Crystal-Clear Sound, Toolbar mode
Changes in jetAudio 8.0.7 :
- Support more file extensions (tak, w64, ...) for context menu, file associations, and tooltip
- Some OGV format did not play properly
- Fixed tooltip information for some MKV format
- Fixed SPDIF output for some DTS sound
- Support M3U8 file extension
- Fixed other minor bugs
Homepage
Download jetAudio Basic 8.0.7 | 32.63 MB
Download jetAudio Plus VX 8.0.7 Upgrade | 32.69 MB
Download jetAudio Plus VX 8.0.7 - FOSI | 32.69 MBjetAudio 8.0.7 skins with previous [X] button style :
Download Skin here[Kinh tế] Giá - lương - tiền
Giá - lương - tiền hay cải cách giá - lương - tiền hoặc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền là cuộc cải cách kinh tế tại Việt Nam vào năm 1985 nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu - bao cấp, chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, được thực hiện theo Nghị quyết Trung ương 8, khóa V, Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng khi áp dụng thì cuộc cải cách này đã đưa nền kinh tế Việt Nam vào tình trạng hỗn loạn.
Bối cảnh
Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV diễn ra từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1978, Đảng Lao động Việt Nam quyết nghị đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, áp dụng mô hình kinh tế của miền Bắc trước khi thống nhất cho cả nước, tiến hành kế hoạch 5 năm 1976-1980. Mô hình kinh tế được lựa chọn đã bộc lộ những khuyết điểm ngay khi còn đang áp dụng ở miền Bắc, khi áp dụng ở miền Nam lại càng cho thấy không phù hợp, gây ra rất nhiều khó khăn cho các đơn vị và nhân dân. Trước thực tiễn đó, những sự thay đổi tư duy quản lý kinh tế đã hình thành, kể cả ở cấp đầu não chính trị, cấp địa phương, lẫn ở các đơn vị kinh tế. Thời kỳ 1979-1982 là thời kỳ có những chuyển biến trong tư duy về kế hoạch hóa kinh tế, về chính sách giá thu mua nông sản, về khoán sản xuất. Kết quả là kinh tế Việt Nam thời kỳ này có những khởi sắc. Tuy nhiên, cũng có những hậu quả tiêu cực như tình trạng tranh mua, tranh bán đẩy giá lên cao, tình trạng kế hoạch tập trung của nhà nước bị các đơn vị kinh tế không chấp hành do mải chạy theo kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Những mặt tiêu cực này đã khiến hình thành chủ trương xét lại, thể hiện rõ qua Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V vào tháng 3 năm 1982, hội nghị lần thứ 1 (tháng 9/1982), thứ 3 (tháng 12/1982), thứ 4 (tháng 6/1983)và thứ 5 (12/1983) của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa V, chiến dịch Z-30, v.v... Giữa lúc chủ trương uốn nắn lại được đẩy mạnh thì Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh trước vốn là được xem là người bảo thủ đã có những thay đổi lớn về tư duy, đặc biệt là sau khi nghiên cứu những kết quả của các cải cách thời kỳ 1979-1982 và đi thực tiễn địa phương ở nhiều nơi. Ông đã nêu ra ý kiến cần đổi mới và phải đổi mới triệt để tại các hội nghị trung ương lần thứ 6, và 7 . Đến hội nghị trung ương 8 (tháng 6/1985), Ban chấp hành trung ương đã quyết nghị tiến hành một cuộc cải cách lớn về giá - lương - tiền, do giáo sư Đoàn Trọng Truyến, giáo sư Trần Phương, giáo sư Trần Quỳnh chỉ đạo, với nội dung chính như sau:
- Tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất
- Thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá cả
- Đảm bảo tiền lương thực tế, thực sự đảm bảo cho người ăn lương sống chủ yếu bằng tiền lương, tái sản xuất được sức lao động.
- Xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở kinh tế
Phương án cải cách
Để triển khai thực hiện nghị quyết của hội nghị trung ương 8 của Đảng, Nhà nước Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo chiến dịch cải cách giá - lương - tiền do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách phân phối lưu thông Trần Phương đứng đầu. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ vừa thiết kế vừa triển khai chiến dịch. Tháng 8 năm 1985, phương án cải cách được đưa ra như sau:
- Về giá, phải tính toán đầy đủ giá các mặt hàng Nhà nước cung cấp và giá các mặt hàng Nhà nước mua của nông dân, thợ thủ công theo giá sát với chi phí sản xuất. Để tiện cho tính toán, các mức giá trên được quy ra thóc. Còn giá thóc được xác định bình quân là 25 đồng/kg, dựa trên tính toán thực tế của các chuyên gia. Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư, như xăng, dầu, xi măng, sắt, theo đó giá sắt 6 tăng 11,5 lần so với mức giá cũ, giá xi măng tăng 12,5 lần.
- Về lương, Ban chỉ đạo đề nghị tăng lương thêm 20%.
- Về tiền, để đáp ứng giá mới và lương mới, phải in thêm tiền, để tổng tiền trong lưu thống là 120 tỷ đồng. Nhưng thời điểm đó, Việt Nam không tự in được tiền mà phải nhờ nước ngoài in. In nhiều tiền sẽ tốn thời gian. Vì lẽ đó, để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Ban chỉ đạo đưa ra chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như vậy 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.
Tiến hành
Cuộc cải cách Giá - lương - tiền được đề ra theo Nghị quyết Trung ương 8, khóa V của Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì vào tháng 6 năm 1985. Giá - lương - tiền bắt đầu được thi hành từ quyết định do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký tháng Chín năm 1985, để củng cố mãi lực của đơn vị tiền tệ Việt Nam. Đây cũng là động lực đưa tới vụ đổi tiền năm 1985 với hối xuất 1 đồng mới ăn 1 đồng, 2 đồng, 6, đồng, 9 đồng hoặc 10 đồng cũ tùy theo thời gian ký thác tiền trong trương mục tiết kiệm. Chủ ý việc đổi tiền là để giảm lượng tiền lưu hành và như thế tăng giá trị của tiền nhưng cũng có những hậu quả tai hại trầm trọng là cơn khủng hoảng kinh tế sau đó. Nhà chức trách đã suy luận sai lầm rằng bằng cách đổi tiền với hối xuất trên, giá trị của đồng tiền sẽ tăng gấp 10 lần.
Mỗi gia đình chỉ được phép đổi lấy 2000 đồng tiền mới. Số tiền vượt con số quy định thì phải nộp vào trương mục ngân hàng đợi nhà chức trách xét sau. Quyết định này cũng xóa sổ vốn tích trữ của nhiều người. Hơn nữa hành động này gây ra cảnh khan hiếm tiền. Có những vụ cơ quan phải trả lương bằng chính loại hàng sản xuất vì không có tiền trả cho nhân công: người làm mũ thì được phát mũ thay tiền lương. Để trả lương, nhà nước lại phải in thêm tiền với khối lượng 1,38 lần so với trước nên hậu quả là vật giá lại tăng mạnh. Sang năm 1986 thì mức lạm phát lên đến 774,7% làm kiệt quệ kinh tế. Riêng các nông sản, so sánh vật giá năm 1986 với năm 1976 thì tăng 2000%.
Những năm kế tiếp lạm phát tiếp tục ở mức ba con số. Đến năm 1989 mới xuống còn hai con số.
Năm Lạm phát 1986 774% 1987 323,1% 1988 393% 1989 34.7%
Để cung ứng nhu yếu phẩm với giá thấp hơn, nhà nước phải mở rộng chương trình tem phiếu nhưng vẫn không đủ nên phải hạn chế theo từng ngạch của đối tượng (công nhân hay học sinh, công chức hay bộ đội, v.v.). Mỗi hạng được phép mua sáu loại hàng với một số lượng ở giá nhất định gồm có gạo, thịt lợn, nước mắm, đường, chất đốt (than, củi, dầu) và xà phòng giặt.
Áp dụng quy chế này cũng buộc nhà nước thu mua hàng hóa từ giới sản xuất ở giá thật thấp, gây phản cảm khiến người sản xuất muốn bán giá cao hơn phải bán bán ra chợ đen, làm thất thoát thêm số lượng hàng ít ỏi. Nhà nông theo quy định chỉ được giữ 60% sản lượng còn 40% phải bán cho nhà nước với giá rẻ theo dạng "thu mua". Vì nhà nước mua ở giá quá rẻ, có khi là dưới giá thành nên dân gian có câu là "mua như cướp". Ngay cả những nông phẩm căn bản là gạo cũng thiếu hụt trầm trọng khiến dân chúng phải ăn độn bằng những thực phẩm trước kia chỉ dùng nuôi gia súc.
Phương thức Giá - lương - tiền lúc bấy giờ chú trọng đến việc kiểm soát lượng tiền để kềm hãm giá mặc dù lý do vật giá tăng là vì thiếu hàng hóa và sản xuất thấp chứ không phải vì lượng tiền lưu hành. Mặt khác giá - lương - tiền cố ấn định giá cả và hạn chế lương bổng nhưng cả ba khía cạnh đều thất bại, không khắc phục được lạm phát.
Rắc rối
Nhà lịch sử kinh tế Đặng Phong cho rằng Cải cách giá - lương - tiền đã bị vỡ trận.
Thứ nhất, các đơn vị kinh tế quốc doanh phản đối mức giá vật tư mới, cho rằng như thế quá cao và đề nghị giảm đi. Tại hội nghị thông báo mức giá mới, các bộ trưởng đã đề nghị các mức giá vật tư thấp hơn. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng chấp thuận rút mức giá mới xuống khoảng 70% so với phương án của Ban chỉ đạo Cải cách.
Thứ hai, các bộ và các tỉnh (nhất là các tỉnh phía Nam) cho rằng mức tăng lương 20% là quá ít. Một số đề nghị nâng mức tăng lương lên 100%. Chính phủ cũng chấp nhận tăng lương 100%.
Kết quả và ý nghĩa
Chi ngân sách Nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức Ban Chỉ đạo đề nghị. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch. Lạm phát bùng nổ. Những vòng xoáy điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho lạm phát leo thang nhanh chóng trong năm 1986. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng 10 lần vẫn không đủ bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút. Đầu tư trong công nghiệp giảm.
Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa.
Thường thì trong một nền kinh tế thị trường khi vật giá tăng thì sẽ kích thích sản xuất theo luật cung và cầu. Nhưng vào thập niên 1980 ở Việt Nam vật giá tăng mà biện pháp là kiềm giá bằng cách quy định giá nên hoàn toàn không có hiệu quả mà còn tạo thêm lạm phát.
Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hàng. Chính phủ cố điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen thì kết quả việc "ngăn sông cấm chợ" và lùng bắt hàng "lậu", tức là mọi thứ hàng không qua tay nhà nước. Trên đoạn đường chỉ vài cây số nhưng có thể có chục trạm gác kiểm soát hàng hóa.
Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm 1985 và năm 1986, song chính sự khủng hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng đã cải cách là phải cải cách triệt để. Mô hình cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn. Trên cơ sở đó cùng với những biến chuyển chính trị toàn cầu như việc Khối Warszawa sụp đổ,, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới lịch sử.
