Trang

Yahoo messager & Skype

or My status

Những bài viết dưới đây hầu hết là sưu tầm trên Internet. Và dưới mỗi bài viết đều được ghi chú rõ nguồn được lấy từ đâu. Vì vây yêu cầu người xem ghi rõ nguồn khi trích dẫn các nguồn tài liệu và tôi sẽ không chịu trách nhiệm nào khi người xem trích dẫn các bài viết này.

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

[KINH TẾ] LỰA CHỌN CỔ PHIẾU THEO NGUYÊN TẮC CANSLIM

LỰA CHỌN CỔ PHIẾU THEO NGUYÊN TẮC CANSLIM

William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công thức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hiện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập.

300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào thị trường chứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, nỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc kết được 7 yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong tương lai. Bảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CAN SLIM.
William tâm sự: “Trên thị trường chứng khoán có đến hàng chục nghìn cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà đầu tư đôi khi rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng đối với họ là “chọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả năng sinh lời để đầu tư.
Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ phiếu đó.
Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích chứng khoán hiện nay. “CAN SLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”- John Neff, một cây đại thụ của phố Wall, cho biết.
CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu:

C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)
William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất.
Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và như thế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen… Điều quan trọng là các nhà đầu tư cần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, chẳng hạn có thể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%.

A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)
Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.
Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.

N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức giá trần mới)

Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán.

S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)

Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.
Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.

L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu)

Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá.

I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)

Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có thể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khiến giá cổ phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định chế tài chính đầu tư nắm giữ cổ phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì điều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh khoản của cổ phiếu xuống thấp.

M: Market Direction (định hướng thị trường)

Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí kể trên, nhưng đến tiêu chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai lầm thì sẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua sẽ mất giá và khiến bạn thua lỗ. Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” những chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Một trong những thành công lớn nhất của William là đầu tư vào cổ phiếu của hãng dược phẩm Syntex. Đây là hành động táo bạo và liều lĩnh, theo đánh giá của các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy giờ, bởi Syntex là hãng sản xuất thuốc tránh thai đầu tiên trên thế giới. Nhưng rồi kết quả đã chứng minh quyết định của William là đúng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Syntex đã công bố doanh thu hàng quý tăng trưởng trên 300% và cổ phiếu của Syntex từ chỗ còn “ẩn danh” với mức giá 100 USD/cổ phiếu đã trở thành cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ với mức giá 550 USD/cổ phiếu trong vòng chưa đầy sáu tháng. Chính nhờ khoản lợi nhuận kếch sù từ Syntex mà William đã có tiền để thành lập công ty William J. ONeil & Company của riêng mình.
Goerge Soros, một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại phố Wall, đúc kết rằng: “Không có lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận nhanh và lớn bằng đầu tư chứng khoán”. Có khá nhiều người xem việc đầu tư chứng khoán là cuộc chơi ngẫu hứng với hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn này dường như không có chỗ cho những quyết định theo cảm tính. Đối với William ONeil cũng như nhiều “cây đại thụ” khác tại phố Wall, các quyết định lựa chọn cổ phiếu cần được dựa trên sự phân tích và phối kết hợp giữa các yếu tố định lượng và định tính. Chìa khoá phân tích trong đầu tư cổ phiếu là tìm ra những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong thời điểm bạn mua chúng. Nói cách khác, bạn phải có kỹ năng phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề cùng với việc hoạch định một kế hoạch đầu tư thích hợp để xác định thời điểm mua vào những cổ phiếu mạnh và bán đi những cổ phiếu yếu.
(Dịch từ Global-investor)
Các chiến thuật kinh doanh cổ phiếu

Dưới đây là một số chiến thuật kinh doanh cổ phiếu của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ.
Những kinh nghiệm này được đúc kết từ các cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 Irrefutable Truths of Trading” tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.
Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh

Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.

Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.
Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore

Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.

Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ.

Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.
Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb

Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch. Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường.
Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó. Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.
Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas

Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao.
Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.
Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil

Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:

C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.


Những điểm quan trọng

Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ” trước.
- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường. O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.


Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

[English] Intransitive verb, Transitive verb, Linking verb

Intransitive verb
là những động từ mà tự bản thân nó đã có nghĩa, không cần bất cứ một sự trợ giúp của các thành phần khác, ví dụ to go, to agree... và bạn chỉ cần thêm chủ từ trước loại này là tạo thành một câu văn đúng, Eg: I go, he agrees..

Transitive verb
Luôn phải đi cùng với một direct object để hoàn thành ý nghĩ cho câu. ví dụ bạn có thể nói tiếng việt như sau "Tôi học ở trường tiểu học " nhưng trong câu tiếng anh thì không phải là "I learn at an elementary school" vì to learn dùng theo nghĩa này là transitive verb nên phải là học cái gì ở trường => câu đúng là "I learn Vietnamese at an elementary school" còn nếu không bạn nên dùng to attend "I attend an elementary school".

Linking verb
Dùng để liên kết chủ từ và complement (bổ ngữ), Eg: to be, to look, to seem. Bạn có thể nhận biết một động từ có phải là linking verb hay không bằng cách thay thế động từ to be bằng nó eg: the class keeps silent=the class is silent. Tuy nhiên a girl keeps a flower thì lại khác a girl is a flower. Trong tiếng anh có một số động từ vừa là tran verb vừa là intran verb hoặc vừa là linking verb. Tóm lại không có quy tắc chung để nhận biết.

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Chương trình langlands Bao-Chau Ngo

Năm 1979 nhà toán học Canada-Mỹ Robert Langlands đã phát triển một lý thuyết đầy tham vọng và có tính cách mạng nối hai lĩnh vực của toán học là lý thuyết số và lý thuyết nhóm. Ngày nay được biết đến với tên gọi chương trình Langlands, lý thuyết đó đã nắm bắt được những quan hệ đối xứng sâu sắc gắn với các phương trình có quan hệ với toàn bộ các số, bằng một loạt các giả thuyết và cách nhìn tổng quát đáng kinh ngạc. Langlands biết rằng chứng minh các giả thuyết nền tảng trong lý thuyết của ông phải là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng có nhiều lý do để ông tin rằng một bước bàn đạp cần chứng minh theo hướng khẳng định, đặt trong ngoặc kép “bổ đề cơ bản”, không quá phức tạp. Ông cùng cộng sự và các học trò của mình đã chứng minh được một số trường hợp đặc biệt của định lý cơ bản này. Tuy nhiên, trường hợp tổng quát tỏ ra khó hơn Langlands dự đoán nhiều, cuối cùng phải đến 30 năm sau mới được chứng minh.

Công trình toán học gây tiếng vang tức thì

Tháng 4/2004, Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon công bố dưới dạng tiền ấn phẩm và đưa lên mạng Internet công trình toán học dày 100 trang viết bằng tiếng Pháp nhan đề: Le lemme fondamental pour les groupes unitaires (Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita/ the fundamental lemma for unitarian groups).

Công trình đi vào một vấn đề thời sự toán học, giải quyết một bài toán lớn từng được nhiều nhà toán học hàng đầu trên thế giới lao vào chứng minh trong suốt 20 năm nhưng chưa ai thành công, cho nên ngay lập tức gây tiếng vang rộng khắp.

Ngô Bảo Châu được mời sang Nhật Bản trình bày các kết quả mới, rồi sau đó, sang Canada dự Hội nghị quốc tế về các dạng tự đẳng cấu và công thức vết tại Viện Fields. Đến hội nghị có nhiều nhà toán học nổi tiếng từ các đại học lớn trên thế giới. Ngô Bảo Châu được mời đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể đầu tiên.

Sau khi nghe anh, chính Robert Langlands, nhà toán học đã từng đưa ra Chương trình Langlands (Langlands Program) thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà toán học xuất sắc nhất hành tinh trong mấy chục năm qua, gặp ngay Ngô Bảo Châu, mời anh sang làm việc dài hạn tại Đại học Princeton, một đại học hàng đầu ở Mỹ, nơi Albert Einstein từng giảng dạy.

Gạt bỏ chướng ngại lì lợm cho giới toán học quốc tế

Do đã có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu thành công Bổ đề cơ bản của Jacquet, Ngô Bảo Châu mạnh dạn bắt tay nghiên cứu Bổ đề cơ bản của Langlands. Sau hai năm, anh thực hiện được một bước đột phá vào mùa hè 2003, khi trở về Hà Nội "phượng đỏ bờ đê, ve kêu hàng sấu" để thăm cha mẹ tại ngôi nhà xinh xắn mới xây nhìn sang hồ Thủ Lệ biếc xanh. Những tháng tiếp theo, kết hợp với một số kết quả mà G. Laumon đã đạt được trước đó, hai tác giả hoàn thành chứng minh Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita (the fundamental lemma for unitarian groups).

Công trình của Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon chứng minh thành công "bổ để" này, gạt bỏ một vật chướng ngại lì lợm trên dòng chủ lưu của toán học đương đại, lập tức gây được sự chú ý của giới toán học quốc tế. Hai tác giả giúp giới toán học vượt qua một vật cản để tiến xa hơn trên con đường A. Wiles đã từng đi qua khi ông chứng minh Giả thuyết Taniyama - Shimura.

Với kết quả Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon đạt được, giới toán học quốc tế đã bước thêm một bước tiến tới chứng minh các giả thuyết khác trong Chương trình Langlands (Langlands Program), thực hiện giấc mơ ấp ủ của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thống nhất vĩ đại huy hoàng trong toán học.

Không phải ngẫu nhiên khi chính A. Wiles, "nhà toán học lừng danh nhất thế kỷ 20", tự mình đứng ra tiến cử Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon nhận Giải thưởng Nghiên cứu của Viện Toán học Clay dành cho công trình toán học xuất sắc nhất thế giới năm 2004. Cũng không phải dễ dàng khi người Mỹ mời anh sang nước này làm việc với mức lương hơn 200 nghìn USD/ năm.

Giáo sư Gérard Laumon (trái) và giáo sư Ngô Bảo Châu tại Paris (Pháp) mùa hè 2004

Làm được việc chính Langlands cũng thất bại

Để hiểu được ý nghĩa của thành công trên, ta hãy quay về với quá trình chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat, hay còn gọi là Định lý lớn Fermat. Định lý này được Pierre de Fermat, nhà toán học Pháp kiệt xuất, nêu lên vào thế kỷ 17, nhưng không để lại chứng minh! Và, vì thế, nó đã trở thành một thách đố làm bối rối những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại trong hơn ba thế kỷ! Thoạt nhìn, định lý thật giản đơn: Phương trình xn + yn = zn không có nghiệm nguyên dương khi n > 2.

Định lý lớn Fermat khiến ta nhớ tới một định lý đã được Pythagore, nhà toán học Hy Lạp cổ đại, chứng minh vào thế kỷ 6 trước Công nguyên, thường gọi là Định lý Pythagore: x2 + y2 = z2 (nếu trong một tam giác vuông ta coi cạnh huyền là z, các cạnh góc vuông là x và y).

Thế nhưng, hơn ba thế kỷ trôi qua, không ai chứng minh được Định lý lớn Fermat!

Giữa thế kỷ 20, hai nhà toán học Nhật Bản Yukata Taniyama và Goro Shimura đưa ra phỏng đoán thiên tài (về sau gọi là Giả thuyết Taniyama - Shimura) rằng mỗi phương trình eliptic đều có liên hệ với một dạng modular. Nếu giả thuyết này đúng, thì nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết nhiều bài toán eliptic cho đến nay chưa giải quyết được, bằng cách tiếp cận chúng qua thế giới modular. Và, như vậy, hai thế giới eliptic và modular vốn tách biệt nhau, sẽ có thể thống nhất.

Trong những năm 1960, R. Langlands và những người cộng tác tại Đại học Princeton (Mỹ) đưa ra một loạt giả thuyết về những mối liên hệ giữa nhiều ngành toán học vốn rất khác nhau, và kêu gọi giới toán học quốc tế hợp tác chứng minh những giả thuyết cấu thành Chương trình Langlands.

Nếu những giả thuyết mang màu sắc tư biện ấy, vào một ngày đẹp trời nào đó, được chứng minh, thì sẽ mang lại những kết quả vô cùng to lớn cho toán học. Khi ấy, bất cứ một bài toán chưa giải được trong một lĩnh vực nào đều có thể biến đổi thành một bài toán tương tự trong một lĩnh vực khác, và các nhà toán học có thể huy động cả một kho to lớn những kỹ thuật mới để giải nó.

Thế nhưng, cho đến lúc bấy giờ, thì chưa có một giả thuyết nào trong chương trình đầy tham vọng của Langlands được chứng minh, kể cả giả thuyết nổi tiếng nhất là Giả thuyết Taniyama - Shimura.

Mùa thu năm 1984, tại một hội nghị toán học tổ chức trong khu Rừng Đen ở CHLB Đức, Gerhard Frey đi tới một kết luận đầy kịch tính, rằng nếu chứng minh được Giả thuyết Taniyama - Shimura, thì cũng có nghĩa là chứng minh được Định lý lớn Fermat, bởi vì định lý này chỉ là một hệ quả của giả thuyết trên.

Kết luận đó kích thích mạnh lòng "cuồng nhiệt" của Andrew Wiles, một nhà toán học người Anh làm việc tại Mỹ. A. Wiles lặng lẽ tự giam mình bảy năm liền trên một gian gác xép, cam lòng chịu cảnh "lưu đày cô đơn" để bí mật tìm kiếm lời giải cho bài toán "xuyên thế kỷ"!

Để rồi trong ba phiên họp liên tiếp vào mấy ngày 21, 22 và 23/6/1993 tại Viện Isaac Newton ở Cambridge, Vương quốc Anh, quê hương A. Wiles, ông ta viết chi chít trên hai tấm bảng lớn, đột ngột thông báo chứng minh Giả thuyết Taniyama - ShimuraĐịnh lý lớn Fermat chỉ là một hệ quả. Lúc ấy, nhiều người thành thật nghĩ rằng đó là "buổi thông báo toán học quan trọng nhất thế kỷ 20".

Báo Guardian ở Anh cũng như báo Le Monde ở Pháp rút tít lớn trên trang nhất. Tờ Peoplecoi A. Wiles là một "người hấp dẫn trong năm" sánh ngang Công nương Diana! Một tập đoàn may sẵn quốc tế mời Wiles quảng cáo cho các mẫu quần áo đàn ông! Thế nhưng...

Nhà toán học Nick Katz, một người bạn của Wiles, bỗng phát hiện ra một lỗi nghiêm trọng nhưng hết sức tinh vi, khó thấy, trong bản thảo dày 200 trang của Wiles. Thế là, than ôi, dường như bất cứ ai cả gan lao vào chứng minh Định lý lớn Fermat, đều không tránh khỏi cuối cùng chuốc lấy... "thất bại định mệnh"! Và bài toán hóc hiểm kia vẫn cứ kiêu hãnh nằm nguyên tại chỗ như một toà... "lâu đài tăm tối"!

Nhưng là con người gang thép, Wiles không cam chịu "bó giáo quy hàng" như bao bậc "tiền bối"! Suốt 14 tháng trời tiếp theo, qua những ngày dài "đau đớn, tủi nhục và gần như tuyệt vọng", Wiles đã sửa chữa, hoàn thiện chứng minh, rồi trao bản thảo hoàn chỉnh cho người đầu tiên là vợ ông - bà Nada - để mừng sinh nhật bà, người đã khích lệ ông trong những phút giây "đen tối nhất"..

A. Wiles thành công vang dội khi chứng minh được Định lý cuối cùng của Fermat, chấm dứt 358 năm căng thẳng trong giới toán học quốc tế. Tuy nhiên, một kết quả mà những người "ngoại đạo" ít chú ý tới, nhưng lại có ý nghĩa to lớn hơn nhiều, đó là chứng minh Giả thuyết Taniyama - Shimura.

Giả thuyết Taniyama - Shimura được chứng minh có nghĩa hòn đá tảng của Chương trình Langlands quả thật là vững chắc. Chương trình này mặc nhiên trở thành bản thiết kế cho tương lai của toán học.

Một loạt giả thuyết toán học của Chương trình này liên kết nhiều đối tượng có vẻ rất khác nhau trong các lĩnh vực toán học như lý thuyết số, hình học đại số, lý thuyết các dạng tự đẳng cấu... ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà toán học hàng đầu, và dần dần trở thành dòng chủ lưu của toán học đương đại.

Việc gạt bỏ những vật cản trên dòng chảy chính ấy đã mang lại vinh quang cho nhiều nhà toán học: A. Wiles chứng minh thành công Định lý lớn Fermat, được tặng Giải thưởng Nghiên cứu Clay. V. Drinfeld thiết lập được tương ứng Langlands cho trường hàm trong trường hợp số chiều bằng 2; L. Lafforgue giải quyết trong trường hợp tổng quát; cả hai nhà toán học trẻ ấy đều được tặng Huy chương Fields.

Năm 1987, Langlands và cộng sự phỏng đoán về một tương tự tương ứng cho trường hàm trên trường phức, về sau, được gọi là tương ứng Langlands hình học. Để chứng minh được sự tồn tại của tương ứng đó, phải giải quyết một bài toán lớn mà lúc đầu Langlands chưa thấy hết mức độ phức tạp của nó, nên mới gọi là Bổ đề cơ bản.

Thuật ngữ bổ đề (lemma) thường dùng để chỉ một cái gì đó dễ chứng minh, một kết quả kỹ thuật giản đơn cần thiết trên con đường chứng minh một định lý đích thực. Thế nhưng, trong trường hợp này, cụm từ bổ đề cơ bản (fundamental lemma) lại gắn liền với một giả thuyết quyết định, một bộ phận không thể tách rời của Chương trình Langlands, một "bổ đề" khó chứng minh đến mức mà 30 năm qua nhiều nhà toán học hàng đầu - kể cả cá nhân Langlands - đã ra sức lao vào giải quyết nhưng đều thất bại!

Nguồn: Times/ bee.net.vn

Thâm nhập” hành trình chứng minh Bổ đề cơ bản của Ngô Bảo Châu

Hãy cùng nghe Joe “văn học hóa” hành trình chứng minh “Bổ đề cơ bản” của giáo sư Ngô Bảo Châu, để hiểu một cách chân phương nhất, đời thường nhất những gì nhà toán học đã làm được để đưa anh đến với giải thưởng Fields danh giá.


Vừa rồi báo chí kể nhiều về giáo sư Ngô Bảo Châu. Bố, mẹ anh làm gì, trước đây anh học ở đâu và được giải thưởng gì. Anh đã nhận giải thưởng Fields ở thành phố nào, được ai trao tặng huy chương. Thậm chí báo chí có nói công trình của anh dày 169 trang (169 trang cơ!), và tên của nhà xuất bản phát hành tạp chí đã công bố công trình đó.


Tuy nhiên, báo chí ít nhắc đến nội dung công việc anh ấy đã làm – công việc khiến anh ấy được chọn là người xứng đáng nhận giải thưởng Fields. “Nói chung anh ấy giỏi toán”, là khái niệm sơ sơ của đa số tác giả viết bài liên quan. Khái niệm đó thường được thể hiện bằng ngôn ngữ rất hoành tráng, nhưng vẫn là khái niệm sơ sơ.


Các tác giả thường dừng lại ở câu “Ngô Bảo Châu đã chứng minh được “Bổ đề cơ bản” (thỉnh thoảng cho chút tiếng Pháp vào cho oách: “Le lemme fondamental pour les algèbres de Lie”). Nhưng “Bổ đề cơ bản”là gì và vì saochứng minh nó?


Tôi không giỏi toán nhưng tôi nghĩ các vấn đề khoa học có thể được thể hiện bằng ngôn ngữ thú vị và dễ hiểu nếu tác giả bỏ chút thời gian nghiên cứu. Tôi đã nghiên cứu và thấy câu chuyện thật thú vị, không kể cho các bạn nghe thì...phí quá!


Câu chuyện bắt đầu như thế này. Cách đây rất lâu các nhà toán học đã công bố hai lý thuyết quan trọng: lý thuyết số học và lý thuyết nhóm (number theory, group theory). Bản chất của hai lý thuyết đó tôi sẽ để cho bác “Wiki” giải thích – điều nên nhớ là (a) hai lý thuyết ấy rất quan trọng trong thế giới toán học và (b) hai lý thuyết ấy từ xa nhìn riêng biệt với nhau, như hai cành của một thân cây.





Cách đây khoảng 30 năm, một nhà toán học Canada tên Robert Langlands đã công bố rằng ông ấy nghĩ hai lý thuyết ấy có sự liên quan rất đa dạng. Quan điểm của Robert (và cách thể hiện quan điểm đó) đã làm cho nhiều nhà toán học thực sự choáng! Robert cũng tự làm choáng mình nữa – ông phát biểu rằng sẽ mất mấy thế hệ để chứng minh sự liên quan đa dạng mà ông ấy cho rằng có tồn tại.

“Nhưng bước đầu tiên sẽ tương đối dễ thực hiện”, ông Robert tự tin nói với đồng nghiệp.


“Bước đầu tiên” đó Robert đặt tên là "fundamental lemma”, và đó chính là “Bổ đề cơ bản” mà các bạn nghe kể nhiều thời gian gần đây.


Ông Robert tựa như đang đứng trên đảo nhỏ. Nhìn về phía Đông là một con tàu lớn. Nhìn về phía Tây cũng là một con tàu lớn. (Hai tàu không có người lái, trôi trên mặt biển.) Robert không nhìn kỹ được nhưng vẫn cho rằng hai con tàu đó có nhiều điểm chung. Có khi sản xuất cùng loại thép. Có khi chân vịt cùng cỡ. Có khi bánh lái của “tàu Đông” hướng về phía tay phải thì bánh lái của “tàu Tây” sẽ tự động hướng về phía tay trái.


Khỏi phải nói hai con tàu đó là lý thuyết số học và lý thuyết nhóm.


Với Robert, việc chứng minh “bổ đề cơ bản” có thể so sánh với việc ném hai sợi dây có móc sang hai tàu. Khi việc đó làm xong, các nhà toán học khỏe mạnh có thể đứng trên đảo cùng Robert, dùng dây kéo hai tàu gần nhau. (Khi đó mới nhìn kỹ được, tìm ra sự liên quan.) Việc kéo hai con tàu gần nhau và so sánh là việc Robert nghĩ sẽ mất mấy thế hệ. Nhưng việc ném hai sợi dây có móc đó ông Robert nghĩ sẽ nhanh thôi.


Nhưng ông Robert đã nhầm. Việc ném dây khó lắm. Robert cùng một số em sinh viên đã ném thử mấy lần nhưng lần nào cũng thất bại. Họ chỉ biết ném gần (không chính xác được) và dùng dây loại mỏng.


Đảo của Robert trở thành đảo nổi tiếng. Suốt 30 năm có rất nhiều nhà toán học sang “ném thử” Ai cũng lau mồ hôi và kêu lên “khó quá!” Nhiều nhà toán học trên đất liền chuẩn bị công cụ dùng để kiểm tra và so sánh hai con tàu lúc được kéo về đảo (kéo gần nhau!). Họ sản xuất máy để kiểm tra loại sơn, lập trình phần mềm để phân tích hai chân vịt. Thậm chí có người tập lái tàu và tập cách đứng trên boong tàu để không bị say sóng. Những công việc và sự tập luyện đó sẽ thành vô nghĩa nếu không có người ném dây chính xác.


Và rồi xuất hiện anh Ngô Bảo Châu. Nghe kể về đảo của Robert, anh bơi sang xin ném thử. “Được chứ!”, các nhà toán học giỏi nhất thế giới động viên. “Anh cứ thử thoải mái đi, thử mấy lần cũng được, thử xong ngồi cùng chúng tôi uống trà đá nhé!”


Anh Châu ném thử một lần, ném rất mạnh, dùng loại dây nặng nhất. Các nhà toán học kia đứng lên ngạc nhiên, nhiều cốc trà đá rơi xuống đất. Cách ném của anh Châu rất lạ; anh dùng kỹ thuật đặc biệt mà chưa ai thấy bao giờ. “Ném thật đi anh ơi!”, các nhà toán học động viên tiếp. “Biết đâu anh sẽ là nhà toán học đầu tiên bắt tàu hai tay!”


Ngô Bảo Châu ném thật. Và chính xác. Hai cái móc dính vào hai con tàu ngay, mọi người vỗ tay ầm ĩ. Rồi anh Châu bảo các nhà toán học đứng trên đảo Robert cầm dây giúp (và bắt đầu kéo hai tàu gần nhau), để anh ấy có thể đi sang Ấn Độ nhận giải thưởng Fields.


Câu chuyện kết thúc tại đây.


Chứng minh “Bổ đề cơ bản” là một trong những thành công lớn nhất của toán học hiện đại, được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009. Vì Ngô Bảo Châu đã hoàn thành việc này, nên những năm tới đây các nhà khoa học thế giới có thể tự tin nghiên cứu sự liên quan giữa lý thuyết số học và lý thuyết nhóm. Đó thực sự là một thành đạt tuyệt vời – cả Việt Nam nên tự hào về người ném dây có tên Ngô Bảo Châu.


Nguồn :Joe Deltaviet

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010

[English] Luyện nghe anh văn từ cơ bản đến nâng cao

Learn English via Listening.zip.001 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?bwtsyjd5d4w
Learn English via Listening.zip.002 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?9uawm1gioux
Learn English via Listening.zip.003 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?ywtomd9rndt
Learn English via Listening.zip.004 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?uuw0kjmuxno
Learn English via Listening.zip.005 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?igg0mo0bxb4
Learn English via Listening.zip.006 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?g1nn1fwtmxf
Learn English via Listening.zip.007 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?cmzaobzm1ez
Learn English via Listening.zip.008 (73.19 MB)
http://www.mediafire.com/?dm93mllwtnv

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2010

[Movie] Hậu Dragon Ball - Dragon Ball GT download (MF)

Dragon Ball GT




Trọn bộ 64 tập
20 tập đầu sub Việt
44 tập sau là thuyết minh


Theo nguyên tác 7 viên ngọc rồng ( Dragon Ball ) thì sau khi tiêu diệt MABƯ ốm, nhóm bạn SONGOKU đã quay về trái đất và sống 1 cuộc sống yên bình. Tại kì thi võ thuật quốc tế năm đó, SONGOKU và nhóm bạn đã hội ngộ với MABƯ ốm dưới hình thức đầu thai là 1 chú bé nhà quê với tên ƯB Còm. SONGOKU đã nhận chú bé làm đệ tử và đưa chú lên thiên đình để huấn luyện thành 1 chiến sĩ trừ gian diệt bạo.

Đây là phần tiếp theo của bộ Dragon Ball được gọi là Dragon Ball GT hay còn gọi là Hậu 7 viên ngọc rồng , nội dung câu chuyện lần này như sau :

10 năm sau ngày SONGOKU nhận ƯB Còm làm đệ tử và dạy dỗ trong phòng thời gian, đại vương Pilat ngày xưa dẫn theo 2 tên đệ tử và ăn cắp được 7 viên ngọc rồng, lúc hắn gọi ngọc rồng ra để ước thì SONGOKU vô tình đi ngang qua và nhận ra đại vương Pilat, Pilat tức giận chuyện ngày xưa khi SONGOKU còn nhỏ đã cản đường hắn nên lúc đó ước : ƯỚC GÌ NGƯƠI NHỎ LẠI ĐỂ KHÔNG CẢN ĐƯỜNG TA NỮA. Rồng thần nghe thấy và chấp nhận điều ước đó, biến SONGOKU thành 1 đứa bé lên 6t, sau đó biến thành 7 cục đá và bay vào trong ngân hà. Vậy là SONGOKU và nhóm bạn phải lên tàu vũ trụ phiêu lưu vào trong không gian để thu thập 7 viên ngọc rồng nhằm biến SONGOKU lớn lên như cũ và bảo vệ trái đất. Một cuộc phiêu lưu mới lại bắt đầu, mời các bạn theo dõi .


BjmBjmHeo - hanhtrangsinhvien.net đã test: Upload, download, giải nén, tua được film -> OK

Link download mediafire film Dragon Ball GT:
Quote:
http://www.mediafire.com/?sharekey=bf737c21150903074c17ca8801618ef7011ecd4d a772fc7f8c4e70960c951cb0

1 file ứng với 1 tập
Password download: hanhtrangsinhvien.net

------
Nguon :
hanhtrangsinhvien.net

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

[Movies]Tuyển tập hài Hoài Linh


Host: Mediafire

DVD1

http://www.mediafire.com/?przhjnd56ij
http://www.mediafire.com/?qudmap2whoe
http://www.mediafire.com/?q3nm1ymoxko
http://www.mediafire.com/?v0lv0ni5xt0
http://www.mediafire.com/?ovhn0xtivi9
http://www.mediafire.com/?mxujxmi5yjh
http://www.mediafire.com/?2jyj9wcnmxm

DVD2

http://www.mediafire.com/?nhnwi2lwhms
http://www.mediafire.com/?lu5lmiyvbc3
http://www.mediafire.com/?dgb1bxd6wvd
http://www.mediafire.com/?bet4yrbdihi
http://www.mediafire.com/?w7bjzbsmemn
http://www.mediafire.com/?vadydtnwg4z
http://www.mediafire.com/?wtveatsoszq

DVD3

http://www.mediafire.com/?nquydtmduto
http://www.mediafire.com/?1mjszjpbn2w
http://www.mediafire.com/?nsvnsjr0cy4
http://www.mediafire.com/?qekotvww7b9
http://www.mediafire.com/?imtz0kw1z2k
http://www.mediafire.com/?xmtxr05juyj
http://www.mediafire.com/?dkyodawn1vb

DVD4

http://www.mediafire.com/?yyzdeoofgid
http://www.mediafire.com/?esh1gvrfmpi
http://www.mediafire.com/?vlzdkxxrjmy
http://www.mediafire.com/?yenu0g0mxrd
http://www.mediafire.com/?tvygjd9p6rh
http://www.mediafire.com/?mvlzjpab2cl
http://www.mediafire.com/?mfmkvbqtzc5

DVD5

http://www.mediafire.com/?mtjc0ysjw9q
http://www.mediafire.com/?hb2midvyyly
http://www.mediafire.com/?39pk3omaz32
http://www.mediafire.com/?sbj1jgr5ftz
http://www.mediafire.com/?2glhte1xyox
http://www.mediafire.com/?3od4bmuhshy
http://www.mediafire.com/?czzyhwxydnl

DVD6

http://www.mediafire.com/?1yw2uvb1s1i
http://www.mediafire.com/?wvhkmlzawhl
http://www.mediafire.com/?qydzlbmg0vb
http://www.mediafire.com/?ualktmbhfxz
http://www.mediafire.com/?n2jmyvgzjdb
http://www.mediafire.com/?btmb4zxz34e
http://www.mediafire.com/?kgatgwueisl

DVD7

http://www.mediafire.com/?ozczdbgtrlh
http://www.mediafire.com/?cedcfemhcbm
http://www.mediafire.com/?diznxuq9brb
http://www.mediafire.com/?mquha1zmmym
http://www.mediafire.com/?v92y3gvdzyb
http://www.mediafire.com/?r52xvhadydg
http://www.mediafire.com/?trwc4tl2lj4

DVD8

http://www.mediafire.com/?bntol0hmzu0
http://www.mediafire.com/?tdzdkyxjy6y
http://www.mediafire.com/?dh0dmf4ssmj
http://www.mediafire.com/?zyaflc0ytws
http://www.mediafire.com/?oijwrnmbbis
http://www.mediafire.com/?0blstg0eoly
http://www.mediafire.com/?apmvdszpvzy

DVD9

http://www.mediafire.com/?x0hwwbgdxmn
http://www.mediafire.com/?mszikyzn2ib
http://www.mediafire.com/?lg94o1tdiwu
http://www.mediafire.com/?0lb6nzfgbgy
http://www.mediafire.com/?tl2k0hatvua
http://www.mediafire.com/?mztm41drazb
http://www.mediafire.com/?j0llwzohgja

DVD10

http://www.mediafire.com/?j22jkamgzyl
http://www.mediafire.com/?nprizduzdvv
http://www.mediafire.com/?ucdgmymfmdz
http://www.mediafire.com/?z32z1znj2bs
http://www.mediafire.com/?sdsz5bw3rwp
http://www.mediafire.com/?nm35lysxpml
http://www.mediafire.com/?bwbztwq2s9h

DVD11

http://www.mediafire.com/?rzwtwwuajym
http://www.mediafire.com/?itp1qgzeebk
http://www.mediafire.com/?zy9wwyehy0z
http://www.mediafire.com/?ymwydoblgbx
http://www.mediafire.com/?ajg2cacx2dt
http://www.mediafire.com/?zdlxzkzmydb
http://www.mediafire.com/?dlv9emwmdof

DVD12

http://www.mediafire.com/?rklmwm30nrn
http://www.mediafire.com/?1xyygvblxql
http://www.mediafire.com/?ubabkmzgnmg
http://www.mediafire.com/?njiainduwc0
http://www.mediafire.com/?bdbgmbi0wyx
http://www.mediafire.com/?zwmihpnniry
http://www.mediafire.com/?lmmxwmvxcic

DVD13

http://www.mediafire.com/?letwhdyydvp
http://www.mediafire.com/?2jyhhjzb3dn
http://www.mediafire.com/?xk153ddmmw2
http://www.mediafire.com/?kbxpwdqn0ld
http://www.mediafire.com/?meswgiv0mmp
http://www.mediafire.com/?wdzyvvm3zml
http://www.mediafire.com/?i0mmgwhja0i

DVD14

http://www.mediafire.com/?fdnoztlxj4o
http://www.mediafire.com/?zyinhmtguet
http://www.mediafire.com/?awyqlcymlfg
http://www.mediafire.com/?eujyiuieifz
http://www.mediafire.com/?j3nyyt1nc4y
http://www.mediafire.com/?ilfninyllad
http://www.mediafire.com/?1llmnobbbpz

DVD15

http://www.mediafire.com/?ozfv55t4g2d
http://www.mediafire.com/?ggbc6mynjdf
http://www.mediafire.com/?4ldzkcglo2v
http://www.mediafire.com/?gbx2eiwf7gl
http://www.mediafire.com/?nnejgs2yctd
http://www.mediafire.com/?mddxptbxnnl
http://www.mediafire.com/?untmjbiinxc

DVD16

http://www.mediafire.com/?zlrzejbmydi
http://www.mediafire.com/?omyzvbzbiyw
http://www.mediafire.com/?erwtim0xlbl
http://www.mediafire.com/?c60ntlimk3m
http://www.mediafire.com/?4fdwdjrtlit
http://www.mediafire.com/?rqevpywvgmm
http://www.mediafire.com/?ludpafpz4be

DVD17

http://www.mediafire.com/?zwbswhd2uzm
http://www.mediafire.com/?mywtas2pbxm
http://www.mediafire.com/?yyyd2kcmydo
http://www.mediafire.com/?nmjxmdeme0w
http://www.mediafire.com/?vziqpexunyk
http://www.mediafire.com/?jsi2wzjem0n
http://www.mediafire.com/?zbqfazkdmiz

DVD18

http://www.mediafire.com/?bdmvcznjjwl
http://www.mediafire.com/?gp12grn23xn
http://www.mediafire.com/?lvsxmzyxnl0
http://www.mediafire.com/?wt1reb0dsmy
http://www.mediafire.com/?zmzfacjqg0t
http://www.mediafire.com/?wjvnmykxwcm
http://www.mediafire.com/?xrrzond2twv

Cười với Hoài Linh 1

http://www.mediafire.com/?zgznm4uz4bs
http://www.mediafire.com/?gbwlolmbybl
http://www.mediafire.com/?ynytbtadzrh
http://www.mediafire.com/?zlxgsstmrwb
http://www.mediafire.com/?zycysym3e1x
http://www.mediafire.com/?ibcmycybgmm
http://www.mediafire.com/?535l4yicnwn

Cười với Hoài Linh 2

http://www.mediafire.com/?00yjjyomnjc
http://www.mediafire.com/?hyedzw3jvem
http://www.mediafire.com/?zd2abnjlnbw
http://www.mediafire.com/?h2renzmljyr
http://www.mediafire.com/?ozw0mgfnvzr
http://www.mediafire.com/?xdxno0owdld
http://www.mediafire.com/?z6lvcs2vlsm

Cười với Hoài Linh 3

http://www.mediafire.com/?jmodgtlbnzw
http://www.mediafire.com/?lilyn2xympn
http://www.mediafire.com/?1mnvittnjcn
http://www.mediafire.com/?opb0bh0tbon
http://www.mediafire.com/?wm4wommvbme
http://www.mediafire.com/?sma3vwr0dnt
http://www.mediafire.com/?bezcmd9zygk

Cổ tích một tình yêu

http://www.mediafire.com/?sharekey=4…2cc8ff20843c16

Những Tên Cướp Biển Vùng Càri-bê – Hoài linh

http://www.mediafire.com/?9dvmyaqjeqp
http://www.mediafire.com/?ntvhx2wikgi
http://www.mediafire.com/?m2bzdjkyslx
http://www.mediafire.com/?myvvduk1myo
http://www.mediafire.com/?pbd3rmndlmd
http://www.mediafire.com/?ieadsydlenv
http://www.mediafire.com/?nbbdi7b0ttd
Pass: gsmvn

PHIM HÀI MỚI NHẤT CỦA HOÀI LINH TỪ 2008 ĐẾN NAY

Live show: BÍ MẬT BỊ BẬT MÍ
linkdown:

http://www.mediafire.com/?dljujdyxhn1
http://www.mediafire.com/?mugiv0w3nhy
http://www.mediafire.com/?azztinjlrmy
http://www.mediafire.com/?tnxg1wnhyw2
http://www.mediafire.com/?ttjwu04tyjz
http://www.mediafire.com/?dmmyudnhnov
http://www.mediafire.com/?vt5nwyhzyyi
http://www.mediafire.com/?ihiwe3nzzin
http://www.mediafire.com/?jzgzm3y34t1
http://www.mediafire.com/?kzlnz3gznky

Live show: NHỮNG TÊN CƯỚP BIỂN CA-RI-BÊ
linkdown:

http://www.mediafire.com/?9dvmyaqjeqp
http://www.mediafire.com/?ntvhx2wikgi
http://www.mediafire.com/?m2bzdjkyslx
http://www.mediafire.com/?myvvduk1myo
http://www.mediafire.com/?pbd3rmndlmd
http://www.mediafire.com/?ieadsydlenv
http://www.mediafire.com/?nbbdi7b0ttd

Pass: gsmvn

Live show: HOÀI LINH KUNG FU
linkdown:

http://www.mediafire.com/?sharekey=9…71ee60c1ce7296

passdown: xixam.com
pass giải nén: tonny_thuong


-----
Nguon : linkmf.com