Yahoo messager & Skype
Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012
Doanh nghiệp bi quan về kinh tế 2012
Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012
Đường cong lãi suất và các dạng phổ biến
Đường cong lãi suất là gì?
Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012
Phân loại 4 nhóm tổ chức tín dụng để giao chỉ tiêu tăng trưởng
Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010
[KINH TẾ] LỰA CHỌN CỔ PHIẾU THEO NGUYÊN TẮC CANSLIM
William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công thức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hiện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập.
300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào thị trường chứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, nỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc kết được 7 yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong tương lai. Bảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CAN SLIM.
William tâm sự: “Trên thị trường chứng khoán có đến hàng chục nghìn cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà đầu tư đôi khi rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng đối với họ là “chọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả năng sinh lời để đầu tư.
Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ phiếu đó.
Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích chứng khoán hiện nay. “CAN SLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”- John Neff, một cây đại thụ của phố Wall, cho biết.
CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu:
C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)
William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất.
Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và như thế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen… Điều quan trọng là các nhà đầu tư cần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, chẳng hạn có thể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%.
A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)
Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.
Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.
N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức giá trần mới)
Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán.
S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)
Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.
Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.
L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu)
Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá.
I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)
Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có thể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khiến giá cổ phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định chế tài chính đầu tư nắm giữ cổ phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì điều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh khoản của cổ phiếu xuống thấp.
M: Market Direction (định hướng thị trường)
Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí kể trên, nhưng đến tiêu chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai lầm thì sẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua sẽ mất giá và khiến bạn thua lỗ. Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” những chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Một trong những thành công lớn nhất của William là đầu tư vào cổ phiếu của hãng dược phẩm Syntex. Đây là hành động táo bạo và liều lĩnh, theo đánh giá của các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy giờ, bởi Syntex là hãng sản xuất thuốc tránh thai đầu tiên trên thế giới. Nhưng rồi kết quả đã chứng minh quyết định của William là đúng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Syntex đã công bố doanh thu hàng quý tăng trưởng trên 300% và cổ phiếu của Syntex từ chỗ còn “ẩn danh” với mức giá 100 USD/cổ phiếu đã trở thành cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ với mức giá 550 USD/cổ phiếu trong vòng chưa đầy sáu tháng. Chính nhờ khoản lợi nhuận kếch sù từ Syntex mà William đã có tiền để thành lập công ty William J. ONeil & Company của riêng mình.
Goerge Soros, một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại phố Wall, đúc kết rằng: “Không có lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận nhanh và lớn bằng đầu tư chứng khoán”. Có khá nhiều người xem việc đầu tư chứng khoán là cuộc chơi ngẫu hứng với hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn này dường như không có chỗ cho những quyết định theo cảm tính. Đối với William ONeil cũng như nhiều “cây đại thụ” khác tại phố Wall, các quyết định lựa chọn cổ phiếu cần được dựa trên sự phân tích và phối kết hợp giữa các yếu tố định lượng và định tính. Chìa khoá phân tích trong đầu tư cổ phiếu là tìm ra những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong thời điểm bạn mua chúng. Nói cách khác, bạn phải có kỹ năng phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề cùng với việc hoạch định một kế hoạch đầu tư thích hợp để xác định thời điểm mua vào những cổ phiếu mạnh và bán đi những cổ phiếu yếu.
(Dịch từ Global-investor)
Các chiến thuật kinh doanh cổ phiếu
Dưới đây là một số chiến thuật kinh doanh cổ phiếu của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ.
Những kinh nghiệm này được đúc kết từ các cuốn “Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time” - tạm dịch “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “The 21 Irrefutable Truths of Trading” tạm dịch “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.
Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh
Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.
Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.
Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore
Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.
Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ.
Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.
Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb
Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch. Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường.
Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó. Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.
Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas
Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao.
Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.
Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil
Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:
C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.
Những điểm quan trọng
Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
- Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ” trước.
- Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
- Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
- Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường. O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.
- Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
- Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
- Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
- Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
- Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
- Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
- Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.
Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn
Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010
Thắt chặt tiền tệ gây yếu kém thanh khoản ngân hàng?
Tình trạng căng thẳng về thanh khoản vào dịp cuối năm tại các ngân hàng là "tính thời vụ" trong hệ thống chứ hoàn toàn không phải do chính sách "thắt chặt tiền tệ".
Bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có cuộc trao đổi về vấn đề này.
Thưa bà, theo chu kỳ, vào dịp này hàng năm, lãi suất trên thị trường luôn căng thẳng, thậm chí đe dọa tới an toàn thanh khoản một số ngân hàng. Hiện tại, cung cầu vốn trên thị trường rất nóng bỏng, có phải thực tế này do Ngân hàng Nhà nước "thắt chặt" tiền tệ?
Theo thời vụ, cứ đến quý 4 hàng năm, nhu cầu nguồn tiền bao giờ cũng căng hơn so với thời gian còn lại trong năm vì đó là thời điểm toàn bộ nền kinh tế đẩy mạnh hoạt động quyết toán công nợ, thực hiện cam kết giải ngân, doanh nghiệp giải quyết hàng tồn kho...
Bởi vậy, hệ thống ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh huy động vốn đứng nhu cầu vốn dồn dập: thanh toán khoản nợ đến hạn với nước ngoài, nhập khẩu hàng hóa, vốn cho sản xuất kinh doanh phục vụ sắm Tết và tạo nên chu kỳ căng thẳng vốn hàng năm.
Chúng tôi vẫn gọi đó là "tính thời vụ" trong hệ thống chứ hoàn toàn không phải do chính sách "thắt chặt tiền tệ" đã tạo nên yếu kém thanh khoản đối với một số ngân hàng.
Một chuyên gia nói rằng, hiện tượng ngân hàng thương mại bị "rỗng ruột" còn xuất phát từ hỗ trợ lãi suất. Bà nghĩ gì về điều này?
Đúng là thực tế ngân hàng thương mại thiếu VND trong mấy ngày qua ngoài nguyên nhân "tính thời vụ" như trên thì còn có lý do xuất phát từ hỗ trợ lãi suất. Doanh nghiệp trong diện được hỗ trợ lãi suất nhờ có được nguồn vốn giá rẻ nên không phải lấy tiền của mình để sản xuất kinh doanh mà để số tiền đó trên tài khoản tiền gửi.
Khi dừng hỗ trợ lãi suất, buộc lòng nhóm đối tượng này rút tiền của mình ra khỏi tài khoản tiền gửi của ngân hàng để sản xuất kinh doanh, trong khi đó, nguồn tiền mà các ngân hàng thương mại đã giải ngân cho hỗ trợ lãi suất (ước hơn 412 nghìn tỷ đồng - PV) chưa kịp thu về. Thực tế này đã tạo ra thế "kẹt" cho các ngân hàng về mặt thời gian giữa "thu về" và "cho ra".
Từ đó, có một số ngân hàng thương mại bị căng thẳng về nguồn vốn, tuy nhiên, chưa đến mức mất thanh khoản. Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời can thiệp hỗ trợ để các ngân hàng này vừa duy trì khả năng thanh khoản vừa đủ vốn đáp ứng cho khách hàng. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát sao sự biến động hẫng hụt từ chính sách hỗ trợ lãi suất và tôi nghĩ, an toàn hệ thống vẫn được đảm bảo.
Từ thực tế Ngân hàng Nhà nước phải bơm thẳng "thuốc trợ lực" cho một số ngân hàng thương mại, bà nhận xét gì về cơ cấu danh mục tài sản của các ngân hàng hiện nay?
Câu chuyện về cơ cấu nguồn vốn ngân hàng, cơ cấu danh mục tài sản đã bền vững hay chưa không còn là mới nhưng vẫn nóng hổi từ nhiều năm nay. Mỗi lần đấu thầu tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ... thì các ngân hàng thương mại quy mô nhỏ chỉ có thể mua được với khối lượng ít cỡ vài chục tỷ đồng, chứ không phải vài trăm, vài nghìn tỷ đồng như các ngân hàng thương mại quốc doanh. Chúng tôi vẫn gọi đó là "lương khô" để các ngân hàng thương mại phòng khi "trái nắng trở trời".
Hơn nữa, vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại nhỏ gần đây được nâng lên khoảng 1.000 tỷ đồng, họ được huy động bên ngoài số lượng lớn gấp 10 hay 20 lần nhưng kể cả có được như thế cũng chẳng so được với những ngân hàng lớn. Chưa kể, với quy mô vốn còn nhỏ, áp lực lợi nhuận từ cổ đông quá cao thì việc muốn mua nhiều "lương khô" cũng chẳng thể được. Vì thế, mỗi lần đấu thầu các công cụ nợ của Nhà nước, hầu hết đều bị ngân hàng lớn thâu tóm.
Từ thực tế căng thẳng thanh khoản tại một số ngân hàng thương mại cổ phần gần đây, theo bà, họ phải chú ý những gì đối với vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản?
Quản trị rủi ro, bao gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp, rủi ro đạo đức... là bài toán vô cùng khó khăn mà lâu nay, Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng thường xuyên nhắc nhở, cảnh báo đối với lãnh đạo các ngân hàng thương mại nhằm ngăn ngừa các loại rủi ro nói trên.
Chẳng hạn, ai biết, ai quản trị được rủi ro đạo đức khi cán bộ một ngân hàng này thông đồng với cán bộ một ngân hàng khác, từ đó hình thành đường dây móc ngoặc làm ăn với nhau?
Tôi lấy ví dụ: một khách hàng A, gửi vào ngân hàng B chỉ 200 triệu đồng nhưng được cán bộ ngân hàng B xác nhận tới 1 tỷ đồng. Khách hàng A mang xác nhận này đến ngân hàng C đặt cọc và vay tới 800 triệu đồng. Lâu nay, kiểm soát việc "ai là người có thẩm quyền xác nhận số dư tiền gửi cho khách hàng" ở nhiều ngân hàng thương mại còn khá lỏng lẻo.
Hiện tại, Hiệp hội Ngân hàng đang nghiên cứu ý tưởng thành lập cơ quan lưu trữ dữ liệu, tích hợp các thông tin, vụ việc vi phạm, có đánh giá phân tích nguyên nhân (nghề nghiệp, đạo đức, luật pháp...), để cho hội viên tra cứu, nhằm phòng tránh loại rủi ro này.
Theo Nguyễn Hoài
Vneconomy
[XHTN] Phương pháp tính điểm xếp hạng tín nhiệm của Moody's
Sau khi được nhiều bạn đọc liên hệ, tôi thấy rằng đa số các bạn đọc (chủ yếu là sinh viên) chưa hiểu rõ về cách tính điểm xếp hạng tín nhiệm nên tôi viết bài này nhằm diễn giải chi tiết hơn cách tính điểm xếp hạng dựa trên phương pháp xếp hạng tín nhiệm ngành bán lẻ toàn cầu của Moody's.
Moody's xếp hạng các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ dựa trên 6 nhân tố chính, trong đó bao gồm 16 nhân tố phụ. Tỷ trọng các nhân tố phụ được các chuyên gia của Moody's xây dựng và điều chỉnh để có thể đánh giá được tốt nhất các doanh nghiệp trong danh mục của Moody's. Phương pháp tính điểm của Moody's qua 5 bước như sau: B1: Từng nhân tố phụ sẽ sẽ được đánh giá theo các hạng mức từ Aaa đến Caa bằng cách so sánh giá trị từng nhân tố phụ của công ty với giá trị chuẩn mà Moody's đưa ra. Nhân tố đó nằm ở hạng mức nào thì sẽ ghi số 1 vào ô tương ứng với nó. Ví dụ, giá trị chuẩn mà Moody's đưa ra cho nhân tố phụ Doanh thu như sau Công ty chúng ta đang xét có mức doanh thu 300 USDbn nên chúng ta ghi số 1 vào ô Aaa như ở Bảng 3 B2: Sau khi đã điền số 1 vào đầy đủ các nhân tố, chúng ta nhân các ô chứa số 1 này với Tỷ trọng nhân tố phụ ở Bảng 1 và tính tổng theo từng mức xếp hạng Aaa - Caa. B3: Điều chỉnh theo Trọng số ứng với từng hạng mức. Tổng điểm của các nhân tố phụ ở B1 nằm trong mức từ Ba trở xuống thì trọng số của hạng mức sẽ càng cao (1.5, 2.8, 3). Sự điều chỉnh mang tính thận trọng này làm cho sự sụt giảm trong nhân tố này không thể bù đắp được bởi sự gia tăng của nhân tố khác, nhằm phân biệt tốt hơn nhóm đầu tư (invested grade) và không đầu tư (speculated grade). B4: Trong bước này ta điều chỉnh điểm số ở B3 thành tỷ lệ phần trăm trên tổng điểm của các hạng mức. B5: Nhân % điểm số ở B4 với Giá trị điều chỉnh thang đo để điều chỉnh sang thang đo của Moody's, chúng ta có tổng điểm là 4.4. So với Bảng 5 thì doanh nghiệp này được xếp hạng Aa. Lê Tất Thành - www.rating.com.vn |
[XHTN] Xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng - Phần 2
NHÂN TỐ 1: LỢI THẾ KINH TẾ
Đánh giá lợi thế kinh tế của một ngân hàng là yếu tố trung tâm trong phân tích của chúng tôi. Một lợi thế kinh tế vững chắc là nhân tố chính làm cơ sở để tạo ra và duy trì nguồn thu nhập của một tổ chức, do đó, giúp các ngân hàng duy trì và cải thiện khả năng phòng chống rủi ro trong những thị trường mục tiêu của nó. Tóm lại, các ngân hàng có lợi thế kinh tế mạnh có vị thế tốt hơn khi chống chọi với các điều kiện thị trường khó khăn kéo dài
Trong bảng điểm, Moody's tập trung vào 4 nhân tố phụ để đánh giá lợi thế kinh tế: Thị phần và tính ổn định, đa dạng hóa khu vực địa lý, tính ổn định của nguồn thu nhập, tính đa dạng hóa nguồn thu nhập
1. Thị phần và tính ổn định
Nhân tố phụ đầu tiên mà chúng tôi xem xét là thị phần và khả năng duy trì thị phần trong dài hạn. Thị phần lớn với một thương hiệu được nhận biết rộng rãi có liên quan chặt chẽ với khả năng trả giá (lãi suất) của ngân hàng. Những yếu tố này như các rào cản các đối thủ khác giành lấy thị phần và như một chỉ báo cho sự ổn định vị thế và khả năng bảo vệ mình của ngân hàng trước các đối thủ cạnh tranh.
Thị phần được sử dụng cho nhân tố phụ này được quyết định dựa trên nơi mà ngân hàng có thu nhập ròng chiếm đa số. Nó thường dựa trên khu vực địa lý, sản phẩm và khách hàng. Đối với những ngân hàng hoạt động trong nhiều khu vực địa lý khác nhau và/ hoặc nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, chúng tôi sẽ cố gắng ước lượng % thị phần thích hợp của nó.
Quy mô của bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào đều phụ thuộc vào đặc điểm của khách hàng, sản phẩm và sự tồn tại hoặc thiếu hụt của luật pháp hay các rào cản thâm nhập ngành. Thị trường thích hợp đối với các sản phẩm ngân hàng bán lẻ có thể là địa phương, trong khi đối với các sản phẩm khác là toàn quốc hay đa quốc gia. Thị trường tương ứng cũng có thể bao gồm các đối thủ cạnh tranh phi ngân hàng tùy thuộc vào sần phẩm hay dịch vụ mà họ đưa ra
Từ đặc điểm của thị trường, một ngân hàng không cần phải lớn mới có được thị phần lớn. Một ngân hàng nhỏ nhưng chi phối thị trường trong một phạm vi nhỏ và được bảo vệ, có thể có giá trị kinh tế được duy trì và nó sẽ chuyển thành nguồn thu nhập ổn định hơn so với các ngân hàng khác. Nói cách khác, một ngân hàng với quy mô tương tự hoặc thậm chí lớn hơn mà cạnh tranh trong thị trường ở phạm vi toàn cầu có thể có thị phần hạn chế hơn.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận ra rằng vị thế thị trường của ngân hàng có thể thay đổi theo thời gian. Xu hướng gần đây cũng sẽ được xem xét, cũng như các đặc điểm cụ thể của từng thị trường riêng biệt.
2. Đa dạng hóa khu vực địa lý
Nhân tố phụ thứ hai đánh giá mức độ đa dạng hóa khu vực kinh doanh của một tổ chức tín dụng. Nhìn chung, sự tập trung quá mức hoạt động cho vay tại một khu vực địa lý đơn lẻ với các hoạt động kinh tế không được đa dạng hóa làm gia tăng rủi ro tín dụng, suy yếu chất lượng tài sản và dễ bị tác động bởi các chu kỳ kinh doanh.
Mở rộng ra, với một ngân hàng nhỏ trong một khu vực đơn lẻ, chúng tôi tin rằng ngân hàng đó nhiều khả năng phải chịu sự biến động thu nhập lớn hơn các ngân hàng được đa dạng hóa khu vực hoạt động. Khu vực địa lý hạn chế thường phụ thuộc vào một số ít ngành kinh tế hơn các khu vực khác. Tuy nhiên, chúng tôi nhận ra rằng, vẫn có những ngoại lệ. Một vài khu vực nhỏ hơn có thể vẫn được đa dạng hóa cao, ngược lại các khuc vực lớn hơn có thể kém đa dạng hóa hơn
3. Tính ổn định nguồn thu nhập
Nhân tố phụ thứ 3 mà chúng tôi xem xét là mức độ có thể dự báo kết quả các lĩnh vực kinh doanh chính của một tổ chức tín dụng. Chúng tôi đánh giá cao các ngân hàng dựa trên hoạt động bán lẻ vì nó có thể tạo ra dòng thu nhập sau khi điều chỉnh rủi ro có thể dự báo được, và nó là tài sản vô giá trong giai đoạn thị trường biến động hoặc lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Sự ổn định thu nhập này thường là kết quả của những mối quan hệ khách hàng bền vững, danh mục cho vay gồm nhiều khoản nhỏ (granular loan portfolios) mà thường thấy ở các ngân hàng bán lẻ truyền thống. Ngân hàng bán sỉ/ ngân hàng dành cho doanh nghiệp thường chịu tính biến động cao hơn trong một thời gian ngắn và bị chi phối bởi các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng.
Chúng tôi chú thích rằng việc phân tích khả năng dự báo được kết quả các mảng kinh doanh chính của một ngân hàng cũng là một bộ phận không thể thiếu trong đánh giá năng lực quản trị rủi ro và vị thế rủi ro của một ngân hàng.
4. Tính đa dạng hóa nguồn thu nhập
Nhân tố thứ 4 mà chúng tôi phân tích là mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong bảng đánh giá, chúng tôi tập trung vào xem xét một ngân hàng có tính đa dạng hóa hay không, những ngân hàng nào mà chỉ dựa vào một lĩnh vực kinh doanh duy nhất, chúng tôi gọi là monoline, và nó sẽ nhận điểm E cho nhân tố phụ này. Niềm tin quá mức vào một hoạt động kinh doanh duy nhất có thể làm cho tổ chức tín dụng dễ bị tổn thương trước những thay đổi tiềm ẩn đột ngột và không thể dự báo trong thị trường mà nó hoạt động, trong khi lại không có nguồn thu nhập khác để tự bảo vệ trước tình trạng mất khả năng thanh toán. Trong bảng điểm xếp hạng, chúng tôi định nghĩa một ngân hàng như là một monoline nếu hơn 80% thu nhập ròng của nó xuất phát từ một hoạt động hay một sản phẩm duy nhất. Ví dụ như các tổ chức mà tạo ra hơn 80% lãi ròng từ thẻ tín dụng, cho thuê tài sản hoạt động và tài chính, cho vay mua ô tô, bao thanh toán, tín dụng bất động sản, tài trợ dự án, cho vay đầu tư chứng khoán ... Riêng đối với các ngân hàng bán lẻ, bởi đặc tính tự nhiên của nó đã được đa dạng hóa giữa hoạt động cho vay và nhận tiền gửi, sẽ không được coi như là monoline.
Nếu một ngân hàng monoline có được lợi thế từ thị phần lớn và thu nhập ổn định, những yếu tố tích cực đó sẽ được thể hiện ở các nhân tố phụ tương ứng. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng điểm số thấp hơn đối với nhân tố phụ "Đa dạng hóa nguồn thu nhập" thì thích hợp vì những ngân hàng monoline dễ bị tổn thương hơn trước những thay đổi tiềm ẩn của thị trường mà không có nguồn thu nhập khác bù đắp.
NHÂN TỐ 2: VỊ THẾ RỦI RO
Vị thế rủi ro của ngân hàng là một nhân tố định tính quan trọng trong phân tích tín dụng của Moody's. Cách tiếp cận của ban quản lý để quản trị các rủi ro là thành phần chính yếu làm nền tảng cho các quyết định mang tính chiến lược và có thể là nền tảng cho cả các quyết định tiếp theo sau đó. Chúng tôi nhận thấy rằng các quy tắc, quan điểm về rủi ro thì song hành với chiến lược của ngân hàng.
Trong phương pháp phân tích của chúng tôi, chúng tôi dựa trên sự kết hợp các đánh giá định tính và định lượng để có thể cung cấp cái nhìn thấu đáo về các nguyên tắc quản trị rủi ro và hiệu lực quản trị rủi ro của một ngân hàng. Quản trị rủi ro ám chỉ việc giảm thiểu hoặc kiểm soát rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Những rủi ro này ảnh hưởng đến khả năng dự báo thu nhập và lợi nhuận cơ bản của ngân hàng, và trong một vài trường hợp gây nguy hiểm đến vị thế tín dụng của ngân hàng nếu chúng không được quản trị hợp lý. Các nhân tố phụ khi đánh giá Vị thế rủi ro là quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức, quyền kiểm soát và quản trị rủi ro, tính minh bạch của báo cáo tài chính , mức độ tập trung rủi ro tín dụng, quản trị thanh khoản, tham vọng rủi ro thị trường
1. Quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức
Bao gồm: quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức, rủi ro nhân sự chủ chốt, và rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ
a. Quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức
Moody's tin rằng tại các ngân hàng có cơ cấu sở hữu phức tạp, ban quản trị có thể gặp khó khăn nhiều hơn khi áp dụng quan điểm giám sát độc lập đối với các cổ đông đang nắm quyền kiểm soát ngân hàng. Người ta có thể cho rằng, các cổ đông lớn, các chủ sở hữu mang tính gia đình, có thể khuyến khích các quyết định mang đến lợi ích dài hạn. Tuy nhiên, ban giám đốc của một tổ chức bị kiểm soát phải quản trị các xung đột lợi ích tiềm tàng giữa lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và lợi ích của các cổ đông thiểu số. Nhiệm vụ của ban quản trị trở nên khó khăn hơn khi cơ cấu tổ chức có tính phức tạp cao và/ hoặc khi các cổ đông kiểm soát nắm giữ các vị trí điều hành chủ yếu.
b. Rủi ro nhân sự chủ chốt
Cách đánh giá chất lượng quản trị của Moody được bao hàm bởi một nhóm các nhân tố xếp hạng sức mạnh tài chính, ví dụ, quan điểm chiến lược và thành tích tài chính quá khứ của ngân hàng. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là mức độ mà một ngân hàng phụ thuộc vào một ủy viên ban quản trị riêng lẻ hoặc một nhóm các ủy viên, mà những cá nhân này chi phối các vị trí ra quyết định chủ yếu. Từ đó, chúng tôi tin điều này có thể tạo ra rủi ro nhân sự chủ chốt, vì việc đánh mất các cá nhân như vậy có thể tác động bất lợi đến tương lai của ngân hàng, ngay cả đối với các ngân hàng đã có quy trình tuyển chọn người kế vị rõ ràng
c. Rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ
Một quy trình phê duyệt tín dụng độc lập cần thiết đối với khả năng thanh toán của ngân hàng. Chúng tôi tin rằng sự mở rộng tín dụng dành cho các nhân viên trong nội bộ ngân hàng - mà còn được gọi là các khoản cho vay đến những người có liên quan - ám chỉ rằng các tiêu chuẩn xét duyệt đã bị phá vỡ, hoặc tối thiểu cũng nói lên rằng các tiêu chuẩn đã không được áp dụng một cách chuẩn mực. Những khoản vay như vậy có thể tạo ra nhiều khó khăn hơn đối với ban quản trị, bởi vì các xung đột lợi ích cố hữu của nó. Những khoản cho vay này đặc biệt gây ra nhiều rắc rối, khi nó được xét duyệt cho các cổ đông nắm quyền kiểm soát hoặc các thành viên quản trị ngân hàng (hoặc những người có liên quan với họ).
Tính độc lập thấp làm gia tăng rủi ro của ngân hàng. Vì lý do này, Moody tin rằng sự có mặt của một vài thành viên quản trị độc lập trong ban quản trị của ngân hàng thì quan trọng (như tiến sĩ Trần Xuân Giá là một thành viên độc lập của ACB) và nó sẽ làm tăng điểm số đối với các ngân hàng kém cỏi chưa bổ nhiệm các thành viên quản trị độc lập và không quan tâm đến cơ cấu sở hữu
2. Quyền kiểm soát và quản trị rủi ro
Chúng tôi quan tâm tới hệ thống quản lý, hệ thông kiểm soát nội bộ và sự cân bằng giữa chúng như là một phương tiện để giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tổng thể của ngân hàng. Chú ý rằng quyền kiểm soát tại ngân hàng đang được chia nhỏ trong những năm gần đây, phản ánh sự phức tạp ngày càng cao hơn để tạo ra sự hòa hợp trong ngân hàng, tầm quan trọng gia tăng trong các hoạt động kinh doanh tại một số ngân hàng, tác dộng của tiến bộ kỹ thuật, sự mở rộng tự do tài chính, và sự thay đổi các luât lệ. Cũng trong thời gian này, các ngân hàng đang đầu tư nguồn lực lớn hơn để đo lường và kiểm soát rủi ro kinh doanh, theo như Basel II, các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ vốn tổi thiểu để đảm bảo cho các rủi ro kinh doanh
3. Tính minh bạch của báo cáo tài chính
Tính minh bạch của báo cáo tài chính là một yếu tố quan trọng trong phân tích chiến lược và vị thế rủi ro của ngân hàng, vì dữ liệu tài chính và hoạt động kinh doanh được báo cáo bởi ngân hàng là điểm khởi đầu trong phân tích tín dụng của chúng tôi. Thêm vào đó, báo cáo tài chính nghèo nàn thường che dấu các rủi ro trong ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng sự minh bạch và thông tin tài chính đúng hạn thì phù hợp với những ngân hàng có sức mạnh tài chính vững vàng.
Các nhân tố được xem xét khi đánh giá tính minh bạch BCTC của ngân hàng là: thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu, các báo cáo thường xuyên và đúng hạn, chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng
a. Thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu: Moody's tin rằng các báo cáo tài chính được thiết lập dựa trên IFRS, US, GAAP hay bất kỳ tiêu chuẩn kế toán tương tự nào mang tính toàn cầu, hoặc được kiểm toán bởi các công ty hàng đầu đề có thể so sánh được với nhau. Bất kỳ một sai lệch có ý nghĩa nào xảy ra sẽ làm cho điểm số minh bạch tài chính của ngân hàng giảm xuống
b. Các báo cáo thường xuyên và đúng hạn: Theo quan điểm của chúng tôi, các báo cáo tài chính theo quý và năm cần được báo cáo thường xuyên và đúng hạn mới có thể đạt được điểm số xếp hạng cao
c. Chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng: Chất lượng thông tin tài chính khác nhau một cách có ý nghĩa tại các ngân hàng được chúng tôi xếp hạng. Nhìn chung, chúng tôi mong đợi rằng các ngân hàng sẽ đưa ra các báo cáo tài chính được trình bày rõ ràng và dễ hiểu hơn đến người sử dụng, công khai tất cả các thông tin quan trọng như danh mục các khoản cho vay lớn, các khoản nợ xấu, mức trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu, tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro. Chúng tôi cũng tiếp xúc với ban quản trị để có hiểu biết toàn diện hơn về rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và giá trị tại rủi ro của ngân hàng
4. Mức độ tập trung rủi ro tín dụng
Sự tập trung tín dụng lớn trong các khoản cho vay, kinh doanh và danh mục đầu tư gia tăng rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng các khoản tín dụng lớn cung cấp cho một vài người vay tiền, ngành hay khu vực đơn lẻ là căn nguyên tiềm tàng của biến động thu nhập.
Các thước đo mà chúng tôi sử dụng để đo lường mức độ tập trung rủi ro tín dụng là mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào khách hàng và mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào ngành.
5. Quản trị thanh khoản
Moody's tin rằng hầu hết các ngân hàng phá sản đầu tiên và trước hết là bởi vì mất thanh khoản. Khi một ngân hàng hoạt động mà không có tiền mặt, nó không thể thực hiện được các chức năng của mình. Nói một cách khác, thanh khoản mạnh có thể giúp một ngân hàng yếu về các mặt khác duy trì được nguồn tiền thỏa đáng để tài trợ cho chính bản thân nó trong suốt giai đoạn khó khăn. Vì vậy, một trong những mục tiêu cốt yếu trong phân tích sức mạnh tài chính của ngân hàng là đánh giá khả năng tự tài trợ trong giai đoạn khó khăn về tài chính.
Phân tích khả năng quản trị rủi ro thanh khoản của Moody's bắt đầu bằng việc đánh giá mức độ các tài sản không có khả năng thanh khoản của ngân hàng được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ có ổn định hay không (chủ yếu là các khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, nợ dài hạn hay vốn cổ phần). Những ngân hàng có nguồn tài trợ ổn định vượt trội các tài sản kém thanh khoản nhìn chung đối mặt với rủi ro thanh khoản thấp.
6. Tham vọng rủi ro thị trường
Khi đánh giá tham vọng rủi ro thị trường của ngân hàng, giả định của chúng tôi là đối với một tham vọng rủi ro lớn hơn, họ cũng kỳ vọng đạt được một tỷ suất sinh lợi lớn hơn. Vì tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong trường hợp này gia tăng tính biến động thu nhập và vì vậy quy mô của các khoản tổn thất tín dụng tiềm ẩn không được mong đợi gia tăng và ngược lại.
Người ta có thể cho rằng, thực tiễn quản trị rủi ro làm cho nhà quản trị chọn mức độ rủi ro tương thích với rủi ro mục tiêu của toàn ngân hàng và hạng mức tín nhiệm mà nó mong muốn duy trì. Cách đánh giá năng lực quản trị rủi ro của Moody's nhằm vào đánh giá mối quan hệ giữa tham vọng rủi ro và khả năng quản trị rủi ro của nó.
Mục tiêu của Moody's khi phân tích rủi ro thị trường là đánh giá độ nhạy của các khoản mục kinh doanh đối với các biến tài chính chính yếu bao gồm lãi suất, giá cổ phần, tỷ giá hối đoái và độ trải rộng tín dụng (credit spread). Chúng tôi xem xét kết quả thông qua kiểm định mô phỏng tình trạng kiệt quệ tài chính hoặc đo lường các tài sản có rủi ro (economic capital) hoặc nếu không có giá trị, chúng tôi tìm kiếm các thước đo rủi ro thị trường khác như VaR hoặc phân tích độ nhạy cảm lãi suất
NHÂN TỐ 3: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ
Moody tin rằng sức mạnh tài chính của một ngân hàng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các luật lệ ngân hàng. Sức mạnh tài chính của một ngân hàng thường được cải thiện cùng với sự tồn tại một hệ thống luật pháp ngân hàng độc lập được tín nhiệm các điều khoản phù hợp với thực tiễn toàn cầu và được giải thích rõ ràng. Mục tiêu chính của hệ thống pháp lý ngân hàng thường tập trung bảo vệ người gửi tiền vào ngân hàng và thúc đẩy xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh để hỗ trợ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1. Tính độc lập
Khi đánh giá môi trường pháp lý, đầu tiên chúng tôi xem xét sự độc lập của các nhà làm luật mà chúng tôi tin tưởng là cần thiết đối với một hệ thống pháp lý ngân hàng hiệu quả. Từ đó, chúng tôi mở rộng xem xét các tiêu chuẩn và luật lệ có bị tác động bởi các ngành kinh doanh hay yếu tố chính trị không, các luật lệ có dễ hiểu và rõ ràng hay không
2. Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn ngân hàng được ban hành nhằm gia tăng tính minh bạch và cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Để đánh giá các tiêu chuẩn này, chúng tôi dựa trên các tiêu chuẩn thực hành tốt nhất mà được ban hành bởi Basel.
Nhiều nhà làm luật đã mở rộng các tiêu chuẩn do Basel ban hành và trông có vẻ tốt về mặt lý thuyết, nhưng chúng lại không theo sát và không có hiệu lực trong thực tế. Một số nhà làm luật thì ngầm thông qua các luật lệ bất thành văn và thuyết phục về mặt đạo đức nghề nghiệp, nhưng chúng lại rất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu thiếu sót các luật lệ và tiêu chuẩn được ban hành, thì tính độc lập của các nhà làm luật và chất lượng giám sát nhất thiết phải được nâng cao lên nhiều lần.
Theo quan điểm của Moody's, các nhà làm luật nên thiết lập các tiêu chuẩn về cấp phép thành lập, vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản.
a. Cấp phép thành lập: Các tiêu chuẩn để được cấp phép hoạt động quan trọng bởi vì các ngân hàng được thành lập mới luôn có rủi ro cao hơn các ngân hàng đã đi vào hoạt động ổn định. Một số lượng lớn các ngân hàng đăng ký mới không được quản lý và giám sát cẩn thận có thể tạo ra rủi ro đáng kể không chỉ đối với ngân hàng đó mà còn đối với cả hệ thống ngân hàng.
b. Yêu cầu vốn tối thiểu là phấn thiết yếu trong các luật lệ ngân hàng, chúng tôi xem xét các ngân hàng có thi hành hiệp ước vốn Basel một cách thận trọng hay không
c. Chất lượng tài sản: Các nhà làm luật thiết lập các tiêu chuẩn về chất lượng tài sản và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Chúng tôi xem xét định nghĩa của ngân hàng về nợ xấu có thận trọng và đồng nhất hay không, các hướng dẫn dự phòng tổn thất tín dụng, tái phân loại nợ và các bút toán xóa nợ có đáng tin cậy hay không, các điều khoản hạn chế cho vay số lượng lớn đối với các thành phần có liên quan đến nhân viên cấp cao trong ngân hàng...
d. Tính thanh khoản: Vấn đề này đã được đề cập ở trên, nhưng ở đây chúng tôi nói về khía cạnh pháp lý của nó. Tức là các nhà làm luật có hướng dẫn và yêu cầu quản trị thanh khoản không, có yêu cầu báo cáo thường xuyên về vị thế thanh khoản không, các ngân hàng có kế hoạch đối phó với các tính huống xấu xảy ra bất ngờ như khi không thể thâm nhập thì trường vốn trong một thời gian dài hay khi xảy ra các cú sốc kinh tế hay không.
3. Sự giám sát (không đề cập)
4. Sự cưỡng chế thi hành (không đề cập)
5. Sự trưởng thành của hệ thống pháp luật (không đề cập)
6. Sức khỏe của hệ thống ngân hàng
Như đã ám chỉ ở trên, sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia có tương quan với sức mạnh của môi trường pháp lý ngân hàng. Trong khi sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng phải chịu tác động từ sự biến đổi các nhân tố vĩ mô vượt ngoài tầm kiểm soát của các nhà làm luật, sự tồn tại luật lệ ngân hàng và hệ thống giám sát hiệu quả, đáng tin cậy và tiên phong có thể giúp ngân hàng khắc phục được phần nào các bất lợi này.
NHÂN TỐ 4: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường bị chi phối bởi môi trường kinh doanh của nó, và ở những nơi mà các điều kiện đặc biệt khó khăn, các ngân hàng thường được nói là nạn nhân trong môi trường của họ. Chu kỳ kinh tế khắc nghiệt, các quyết định mang tính chính trị gây nguy hại cho hoạt động kinh doanh, hệ thống luật pháp yếu kém và môi trường cạnh tranh không công bằng có thể tác động riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau làm suy yếu khả năng thanh toán của ngân hàng. Trong nhiều nhân tố, Moody's tin rằng các nhân tố chính là biến động của nền kinh tế, hiệu quả của hệ thống pháp luật, hiệu quả của các tổ chức chính trị và xã hội, động lực cạnh tranh và cấu trúc ngành ngân hàng
Trong phân tích ban đầu của chúng tôi về môi trường kinh doanh để cho điểm sức mạnh tài chính tập trung vào 3 thước đo khác nhau, tất cả chúng đều có thể được định lượng. Chúng tôi chọn các thước đo này như là cách tốt nhất để nắm bắt các khác biệt lớn trong các môi trường kinh doanh khác nhau. Thực tế, Moody's đánh giá môi trường kinh doanh của một nước ít nhất một lần trong mỗi năm. Đánh giá đó sẽ được áp dụng đối với tất cả các ngân hàng hoạt động trong cùng hệ thống. Đối với những ngân hàng có một phần tài sản hoặc lợi nhuận đáng kể (hơn 20%) từ quốc gia khác (quản lý trực tiếp hoặc công ty con), chúng tôi sẽ tính toán điểm môi trường kinh doanh đối với mỗi nhân tố phụ dựa trên hỗn hợp tài sản và lợi nhuận của nó. Từ đó, phản ánh môi trường kinh doanh tổng thể của ngân hàng
1. Tính ổn định của nền kinh tế
Một sự sụt giảm lớn trong tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan với sự suy yếu trong chất lượng tài sản. Vì vậy, khi tất cả các điều kiện khác là như nhau, những quốc gia với các chu kỳ kinh tế biến động mạnh hơn thì rủi ro hơn đối với các hoạt động kinh doanh.
Chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp hóa cao thường biến động ít hơn, với tăng trưởng GDP tăng giảm từ 1 -2% trong suốt 2/ 3 của 20 năm qua. Các nền kinh tế đang phát triển biểu hiện sự biến động mạnh hơn trong chu kỳ kinh tế, với độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP trong khoảng 7 -12%. Dựa trên độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa, chúng tôi tính điểm nhân tố "Tính ổn định của nền kinh tế" cho mỗi quốc gia.
2. Liêm chính và tham nhũng
Tham nhũng có thể làm cho môi trường kinh doanh không thể dự báo được và lãng phí. Tham nhũng trong nền kinh tế tạo ra khó khăn đối với các ngân hàng, thậm chí ngay cả khi hoạt động kinh doanh trong nội bộ của nó không có tham nhũng.
Tại cấp độ vĩ mô, tham nhũng gây lãng phí và các nguồn lực không được phân phối đúng nơi, vì vậy giới hạn tăng trưởng kinh tế. Tại cấp độ vi mô, tham nhũng có thể làm hủy hoại thông tin kế toán và các thông tin khác mà các quyết định tín dụng được đưa ra dựa trên các thông tin đó.
Bởi vì rất khó để có thể đánh giá chính xác mức độ tham nhũng dựa trên các dữ liệu thô. Vì vậy, chúng tôi chọn chỉ số Khả năng kiểm soát tham nhũng của World Bank (WB CC) - chỉ số nhằm xếp hạng mức độ sử dụng tài sản công hay quyền lực chính trị để tư lợi trong mỗi quốc gia. Điểm số cho mỗi quốc gia sẽ dựa trên chỉ số này. (Việt Nam có điểm số là - 0.76 trong năm 2008, đứng thứ 167 trong 212 quốc gia được World Bank xếp hạng).
3. Hệ thống luật pháp
Phần lớn hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa trên các hợp đồng, khế ước vay nợ, các khoản bảo đảm, thế chấp, ký quỹ và các hợp đồng phái sinh. Hầu hết các nhà quản trị giảm nhẹ hoặc kiểm soát rủi ro dựa trên các dự báo và sự công bằng của hệ thống luật pháp. Giá trị tiền tệ theo thời gian cũng đặt ra một phần bù rủi ro dựa trên sự tiến triển của hệ thống luật pháp
Từ các lý do này, chúng tôi cho điểm hệ thống luật pháp của mỗi quốc gia căn cứ vào thời gian một ngân hàng chuyển nhượng xong quyền sở hữu bất động sản thế chấp khi khách hàng không thể trả được nợ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, thời gian này ít hơn một năm đối với các quốc gia có ngân hàng hiệu quả - tòa án thân thiện và luât lệ vững chắc. Tuy nhiên, những nơi mà tòa án không hiệu quả, tham nhũng hoặc bảo hộ cho lợi ích của các cá nhân, ngân hàng có thể tốn từ 5 -10 năm xử lý bất động sản thu hồi nợ, điều này có thể làm sụt giảm đáng kể giá trị các tài sản thế chấp của ngân hàng.
NHÂN TỐ 5: NỀN TẢNG TÀI CHÍNH
Nền tảng tài chính là cách tương đối dễ dàng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong phạm vi toàn cầu, bởi vì nhìn chung ngân hàng có hai hoạt động chính là mươn tiền và cho vay tiền. Moody's xem xét nhân tố nền tảng tài chính theo 4 nhân tố phụ sau: khả năng sinh lợi, tính thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, chất lượng tài sản.
1. Khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lời là yếu tố chính quyết định thành công hay thất bại dài hạn của một tổ chức tài chính. Nó đo lường khả năng tạo ra giá trị kinh tế và từ đó gia tăng các nguồn lực để duy trì hoặc cải thiện khả năng phòng chống rủi ro cho các chủ nợ. Moody's tin rằng sự tái tạo khả năng sinh lợi là biện pháp đầu tiên để chống lại các khoản thua lỗ tín dụng. Tuy nhiên, thu nhập cần được đo lường theo sự biến động. Trong các tỷ số của chúng tôi, chúng tôi tìm được tỷ số đảm bảo cho các chủ nợ trong khi đo lường thu nhập mà có liên quan với bảng cân đối tài sản và các rủi ro khác. Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thức được rằng các nhà quản trị ngân hàng có thể sẽ phải để tâm đến các nhu cầu của cổ đông. Mở rộng ra, các tỷ số như tăng trưởng ROE hay EPS sẽ tác động đến các chiến lược của ban quản trị, nên chúng tôi sẽ quan sát chúng để phán đoán các áp lực mà nhà quản trị phải đối mặt.
2. Tính thanh khoản
Tất thanh khoản hầu như luôn là nguyên nhân gần nhất làm cho các ngân hàng phá sản, trong khi thanh khoản mạnh giúp các ngân hàng yêu kém về các mặt khác có thể duy trì thỏa đáng nguồn tiền trong suốt thời gian khó khăn. Một trong những mục tiêu chính trong phân tích BSFRs là đánh giá khả năng tự tài trợ của nó khi gặp phải tính trạng suy kiệt tài chính.
3. An toàn vốn
So với hầu hết các ngành khác, ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao. Theo thống kê, các ngân hàng phá sản hều hết bởi thua lỗ trong danh mục cho vay, mô hình kinh doanh nghèo nàn hoặc lừa đảo. Các nhân tố này rốt cuộc đều làm suy giảm nguồn vốn, nhưng sự suy giảm vốn không phải là căn nguyên dẫn đến sự phá sản của ngân hàng. Như chúng tôi đã nói nhiều lần, vốn thì quan trọng, nhưng nó không phải là chỉ báo cho sức khỏe tín dụng, và vì vậy hiếm khi tác động đến mức xếp hạng. Thực tế, theo dữ liệu lịch sử, tỷ số đòn bẩy có tương quan dương với mức xếp hạng - các ngân hàng được xếp hạng cao có đòn bẩy cao hơn các ngân hàng được xếp hạng thấp hơn. Bởi vì chúng tôi tin rằng lợi ích từ mở rộng mô hình kinh doanh, một "hỗn hợp" các hoạt động kinh doanh được đa dạng hóa, quản trị rủi ro tốt và ổn định, thu nhập có thể dự báo được vượt trội các bất lợi do tỷ số vốn yếu gây ra.
Theo như các quy định đặt ra, các ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu an toàn vốn tối thiểu. Các ngân hàng có nguồn vốn thặng dư, vượt quá yêu cầu an toàn vốn tối thiểu có nhiều thuận lợi hơn khi thâm nhập thị trường vốn và cung cấp cho ban quản trị sự linh hoạt tài chính để nắm bắt các cơ hội thâu tóm, mua lại hay tái cơ cấu hoạt động.
Các tranh luận về nguồn vốn trở nên nổi bật hơn tại thời điểm xảy ra hoạt động thâu tóm. Bởi vì các tổ chức tài chính thường gia tăng đòn bẩy tài chính để tài trợ cho giao dịch này. Ở một khía cạnh khác, nguồn vốn cũng đáng chú ý hơn khi một ngân hàng có tình trạng tài chính yếu kém.
4. Hiệu quả hoạt động
Ngân hàng là ngành tập trung cao yếu tố công nghệ và con người, và chính sách cắt giảm chi phí là tiêu điểm chiến lược để các ngân hàng đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn. Sư gia tăng đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm ngân hàng làm cho việc tăng doanh thu trở thành một nhiệm vụ khó khăn. Phân tích của chúng tôi tập trung vào cả những nỗ lực của ban quản trị để kiểm soát và cắt giảm các chi phí, và kết quả đem lại thực sự.
5. Chất lượng tài sản
Chất lượng tài sản quyết định thu nhập trong tương lai của ngân hàng, tạo ra hay xói mòn nguồn vốn. Danh mục các khoản cho vay nhìn chung là thành phần lớn nhất trong bảng cân đối tài sản của một ngân hàng. Vì vậy, chất lượng các khoản cho vay được xem là thành phần chính quyết định khả năng trả nợ của ngân hàng.
CÁC TỶ SỐ ĐƯỢC CHỌN
Vì xếp hạng của Mody's phân loại rủi ro mà có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu. Nên bảng điểm của Moody's tập trung vào các tỷ số vừa có ý nghĩa trong đánh giá rủi ro tín dụng và vừa có thể tính toán được đối với hầu hết các ngân hàng trên thế giới. Để giảm biến động khi xét bất kỳ một giai đoạn riêng lẻ nào, chúng tôi chọn cách tính toàn các tỷ số trung bình trong 3 năm:
1. Khả năng sinh lợi
Thu nhập trước thuế và dự phòng thua lỗ tín dụng/ tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: lợi nhuận trước khi trích lập dự phòng phản ánh thu nhập cốt lõi của một ngân hàng, và đảm bảo cho việc bù đắp các khoản lỗ nếu có trong tương lai. Lợi nhuận được tính với tài sản sau khi đã điều chỉnh rủi ro, như là một khoản đảm bảo cho những người gửi tiền. Cách tính này cung cấp một đánh giá tốt hơn về rủi ro so với việc dùng tổng tài sản, bởi vì nó phản ánh rủi ro trong bảng cân đối và kế toán ngoài bảng. Dù sao, chúng tôi cũng biết rằng việc đánh giá tài sản rủi ro này vẫn chưa thật sự hoàn hảo. Khi dữ liệu về tài sản đã điều chỉnh rủi ro không thể tiếp cận được, chúng tôi sẽ tính nó dựa trên bảng cân đôi kế toán, kế toán ngoài bảng và các trọng số rủi ro tiêu chuẩn, những ước lượng này cũng tương đương tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro.
Thu nhập thuần/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: Thu nhập ở đây được tính sau tất cả các chi phí.
2. Tính thanh khoản
(Nguồn vốn từ thị trường trừ tài sản có tính lỏng)/ Tổng tài sản: Nguồn vốn từ thị trường bao gồm tất cả các khoản nợ ngắn và dài hạn. Tỷ số này thể hiện mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn bên ngoài
3. An toàn vốn
Tỷ số trong Basel I (Tier 1 Basel Regulotory Ratio): Đây là tỷ số theo Basel I được báo cáo bởi các ngân hàng (Nguồn vốn/ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro). Tỷ số này được ưa chuộng bởi vì nó gần với vốn cổ phần và không bao gồm nợ dưới chuẩn. Các khoản nợ dưới chuẩn thường không thể giảm thiểu thiệt hại trừ phi có tính thanh khoản cao, và chúng không cung cấp sự đảm bảo trước rủi ro mất khả năng thanh toán.
Vốn cổ phần hữu hình/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro: Chỉ số này phản ánh rủi ro của tài sản ngân hàng (trong và ngoài bảng cân đối kế toán). Vốn cổ phần hữu hình được tính bằng tổng vốn cổ phần trừ đi các khoản : cổ phần ưu đãi, lợi ích cổ đông thiểu số, dự phòng lãi lỗ chưa thực hiện từ kinh doanh chứng khoán, dự phòng định giá lại tài sản, điều chỉnh dòng tiền phát sinh chưa thực hiện từ các công cụ phái sinh, lợi thế thương mại và các tài sản vô hình khác.
4. Hiệu quả hoạt động
Tỷ số này được đo lường bởi tổng chi phí không bao gồm lãi vay phải trả để tạo ra tổng thu nhập (mà được tính toán như Tổng thu nhập lãi thuần + Tổng thu nhập phi lãi vay bao gồm cả lợi nhuận hay thua lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán). Tỷ số này đo lường hiệu quả của ngân hàng và khả năng tạo ra lợi nhuận mà không cần phải gia tăng doanh thu
5. Chất lượng tài sản
Tỷ số nợ xấu/ Tổng nợ: Các khoản nợ xấu bao gồm các khoản cho vay sụt giảm giá trị như được định nghĩa tại IAS 39, dành cho các ngân hàng kế toán theo IFRS hoặc hệ thống kế toán tương tự; hoặc các khoản cho vay không tích lũy + các khoản cho vay tích lũy quá hạn 90 ngày hoặc nhiều hơn đối với các ngân hàng kế toán theo tiêu chuẩn của Mỹ hoặc các hệ thống kế toán tương tự; đối với các ngân hàng không kế toán theo IFRS, Moody's sẽ ước lượng mức độ các khoản cho vay có vấn đề bằng cách phân loại các nợ của ngân hàng.
Tỷ số Nợ xấu/ (Vốn cổ phần thường + Dự phòng tổn thất tín dụng): Chúng tôi cộng các khoản Dự phòng tổn thất tín dụng vào mẫu số hơn là trừ ra khỏi tử số, để dễ so sánh đối với các ngân hàng khác nhau về chính sách dự phòng và xóa bỏ tài sản (write-off).
(Hết)
Lê Tất Thành - www.rating.com.vn
Lược dịch dựa trên bản xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng của Moody's (2006)
[XHTN] Các phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp điển hình trên thế giới - Phần 1
1. Mô hình toán học xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp
Trước khi quyết định đánh giá tín nhiệm và ước lượng rủi ro tín dụng phát triển thành những mô hình toán học và thống kê, việc cấp tín dụng hoàn toàn dựa trên phương pháp xét đoán. Phương pháp này sử dụng mọi loại thông tin liên quan đến khách hàng mà các chuyên viên tín dụng thấy cần thiết và dùng các phán đoán chủ quan để đánh giá rủi ro.
Phương pháp xét đoán do vậy có nhiều thiếu sót. Đầu tiên, phương pháp không đáng tin cậy vì nó phụ thuộc vào cách thức của mỗi chủ nợ; thứ hai, quyết định có thể thay đổi từ người này sang người khác nên khó tranh luận và truyền thụ; thứ ba là không thể giải quyết với số lượng lớn hoặc phải duy trì một hệ thống chuyên viên phân tích chi phí cao.
Vì vậy, khi có sự phát triển của khoa học thống kê, những phương pháp phân tích, phân lớp và dự báo nhanh chóng được ứng dụng và đã bổ sung hiệu quả cho phương pháp truyền thống, từ lượng hóa các chỉ tiêu đến dự báo rủi ro tín dụng . Hiện nay, các ứng dụng thống kê trong xếp hạng tín nhiệm lại đang chuyển mình từ mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro tín dụng sang mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ nợ (chủ yếu là các ngân hàng).
1.1. Chỉ số Z của Edward I. Altman
Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I. Altman (1968), Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ. Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian... Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA).
Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:
| X1= | Vốn luân chuyển |
| Tổng tài sản |
- Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
- Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1
| X2 = | Lợi nhuận giữ lại |
| Tổng tài sản |
- Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian.
- Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này. Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận. Theo một nghiên cứu của Dun & Bradstreet (1993), khoảng 50% công ty phá sản chỉ hoạt động trong 5 năm.
| X3 = | EBIT |
| Tổng tài sản |
- Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó. Vì vậy, tỷ số này, theo Atlman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lợi.
| X4 = | Giá thị trường của vốn cổ phần |
| Giá sổ sách của nợ |
- Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
- Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi
- Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Đây là một phiên bản đã được sửa đổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của trái phiếu (1959). Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao.
- Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị sổ sách của vốn cổ phần.
| X5 = | Doanh thu |
| Tổng tài sản |
- Đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác.
- Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao.
- X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau.
Một số nghiên cứu vào thập niên 1960 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là tỷ số rất tốt để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòng tiền và khấu hao của các doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số Z của Altman không bao gồm các tỷ số có liên quan đến dòng tiền. Điều này khá phù hợp với thực trạng về thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hơn nữa chỉ số Z đã được sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác 95% đối với mẫu dữ liệu) và nhiều nước khác thì rất có thể cũng sẽ thực hiện tốt tại Việt Nam trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay dự báo phá sản.
Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5
- Nếu Z >2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.8<>
- Nếu Z <1.8:>
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:
Z' = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5
- Nếu Z' > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.23 <>
- Nếu Z' <1.23:>
Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra.
Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
- Nếu Z" >2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
- Nếu 1.2 <>
- Nếu Z <1.1:>
Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 700 công ty để cho ra chỉ số Z" điều chỉnh:
Z"điều chỉnh = 3.25 + Z" = 3.25 + 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S&P. Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp chuyên gia.
Nguồn: Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm"
Để xem xét chỉ số Z hoạt động như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam, tác giả lấy ví dụ về Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) - công ty niêm yết điển hình có nhiều triệu chứng đang trước ngưỡng phá sản trong năm qua (Tháng 7/2008, Ngân hàng Hàng hải Việt Nam bắt đầu gửi thông báo nợ quá hạn đến BBT).
BBT đã cổ phần hóa từ năm 1997 và là công ty sản xuất nên áp dụng công thức:
Vì trong hai năm 2006 và 2007, các cổ đông không biết là BBT bị lỗ, cộng với tính không hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nên giá cổ phiếu vẫn gia tăng theo thị trường. Nếu giá thị trường không thay đổi gì so với năm 2005 thì chỉ số Z năm 2006 và 2007 lần lượt là 1.64 và 1.04, tức là chỉ số Z giảm dần từ 2.41 điểm (2002) đến -0.41 điểm (2008).
Từ kết quả này, cho thấy, chỉ số Z phản ánh gần sát với tình trạng thực tế mà BBT đang gánh chịu và cũng minh chứng phần nào tính hữu dụng của chỉ số Z nói riêng và mô hình toán học dự báo phá sản nói chung tại Việt Nam. Tuy nhiên, để ứng dụng tốt vào thực tế thì chỉ số Z hay các mô hình định lượng phải được hiệu chỉnh, được xây dựng trên dữ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam, qua kiểm định cụ thể thì hiệu quả mới chính thức được công nhận và nâng cao.
1.2. Chỉ số Zeta
Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ các trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:
| X1 = | EBIT |
| Tổng tài sản |
Tổng tài sản không bao gồm các lợi thế thương mại và tài sản vô hình trong các biến số của Zeta.
X2 = Mức ổn định thu nhập
- Chỉ tiêu này đo lường sai số chuẩn trong xu hướng của X1 trong vòng 5 đến 10 năm. Rủi ro kinh doanh thường được biểu hiện thông qua sự dao động của thu nhập nên biến số này tỏ ra có hiệu quả đặc biệt.
- Bên cạnh đó, Altman cũng đánh giá thông tin chứa đựng trong một vài biến số tương tự để đo lường những rủi ro có thể xảy ra đối với công ty. Những biến số này có ý nghĩa nhưng nó không được đưa vào mô hình
| X3 = | EBIT |
| Lãi vay |
- Tỷ số này được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa và làm cho khác biệt giữa các tỷ số không quá lớn.
- Lãi vay bao gồm lãi phải trả cho các tài sản thuê ngoài.
| X4 = | Lợi nhuận giữ lại |
| Tổng tài sản | |
| X5 = | Tài sản lưu động |
| Tổng tài sản | |
| X6= | Vốn cổ phần thường |
| Tổng vốn |
- Vốn cổ phần thường được tính bằng giá trị thị trường bình quân trong thời gian 5 năm.
- Tổng vốn = Vốn cổ phần thường + cổ phần ưu đãi + nợ + tài sản thuê ngoài đã được vốn hóa.
- Biến số này được điều chỉnh tùy theo những thay đổi trong báo cáo tài chính.
- Quy mô tài sản cũng được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa phân phối của biến.
- Mô hình này được nhiều ngân hàng ở các nước áp dụng và phát triển thành các mô hình khác để xếp hạng khách hàng đi vay như mô hình mạng nơ ron thần kinh (neural network), mô hình dựa trên mức tăng giá thị trường...
2. Edward I. Altman (1968), "Financial ratios, discriminant analysis and the prediction of corporate bankruptcy", The Journal of Finance
3. Edward I. Altman (2000), "Predicting Financial Distress Of Companies: Revisiting The Z-Score And Zeta® Models", New York University
4. Edward I. Altman, "The use of credit scoring models and the important of a credit culture", New York University
5. Fitch (2006), "Corporate Rating Methodology", www.fitchratings.com
6. Moody's (2008), "Moody's Rating Symbols and Definations", www.moodys.com
7. Moody's (2008), "Moody's Financial MetricsTM Key Ratios by Rating and Industry for Global Non- Financial Corporations: 2008", www.moodys.com
8. Standard & Poor's (2008), "Corporate Ratings Criteria", Standard & Poor's