Trang

Yahoo messager & Skype

or My status

Những bài viết dưới đây hầu hết là sưu tầm trên Internet. Và dưới mỗi bài viết đều được ghi chú rõ nguồn được lấy từ đâu. Vì vây yêu cầu người xem ghi rõ nguồn khi trích dẫn các nguồn tài liệu và tôi sẽ không chịu trách nhiệm nào khi người xem trích dẫn các bài viết này.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai lieu hoc tap. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai lieu hoc tap. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2010

[English] Luyện nghe anh văn từ cơ bản đến nâng cao

Learn English via Listening.zip.001 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?bwtsyjd5d4w
Learn English via Listening.zip.002 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?9uawm1gioux
Learn English via Listening.zip.003 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?ywtomd9rndt
Learn English via Listening.zip.004 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?uuw0kjmuxno
Learn English via Listening.zip.005 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?igg0mo0bxb4
Learn English via Listening.zip.006 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?g1nn1fwtmxf
Learn English via Listening.zip.007 (100 MB)
http://www.mediafire.com/?cmzaobzm1ez
Learn English via Listening.zip.008 (73.19 MB)
http://www.mediafire.com/?dm93mllwtnv

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Thắt chặt tiền tệ gây yếu kém thanh khoản ngân hàng?

Thắt chặt tiền tệ gây yếu kém thanh khoản ngân hàng?Tình trạng căng thẳng về thanh khoản vào dịp cuối năm tại các ngân hàng là "tính thời vụ" trong hệ thống chứ hoàn toàn không phải do chính sách "thắt chặt tiền tệ".

Mấy ngày gần đây, lãi suất trên thị trường và nhất là lãi suất thị liên ngân hàng tiếp tục nóng lên. Đã xuất hiện đồn đoán rằng "thanh khoản ngân hàng có vấn đề" và đó là do Ngân hàng Nhà nước "thắt chặt tiền tệ".

Bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có cuộc trao đổi về vấn đề này.

Thưa bà, theo chu kỳ, vào dịp này hàng năm, lãi suất trên thị trường luôn căng thẳng, thậm chí đe dọa tới an toàn thanh khoản một số ngân hàng. Hiện tại, cung cầu vốn trên thị trường rất nóng bỏng, có phải thực tế này do Ngân hàng Nhà nước "thắt chặt" tiền tệ?

Theo thời vụ, cứ đến quý 4 hàng năm, nhu cầu nguồn tiền bao giờ cũng căng hơn so với thời gian còn lại trong năm vì đó là thời điểm toàn bộ nền kinh tế đẩy mạnh hoạt động quyết toán công nợ, thực hiện cam kết giải ngân, doanh nghiệp giải quyết hàng tồn kho...

Bởi vậy, hệ thống ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh huy động vốn đứng nhu cầu vốn dồn dập: thanh toán khoản nợ đến hạn với nước ngoài, nhập khẩu hàng hóa, vốn cho sản xuất kinh doanh phục vụ sắm Tết và tạo nên chu kỳ căng thẳng vốn hàng năm.

Chúng tôi vẫn gọi đó là "tính thời vụ" trong hệ thống chứ hoàn toàn không phải do chính sách "thắt chặt tiền tệ" đã tạo nên yếu kém thanh khoản đối với một số ngân hàng.

Một chuyên gia nói rằng, hiện tượng ngân hàng thương mại bị "rỗng ruột" còn xuất phát từ hỗ trợ lãi suất. Bà nghĩ gì về điều này?

Đúng là thực tế ngân hàng thương mại thiếu VND trong mấy ngày qua ngoài nguyên nhân "tính thời vụ" như trên thì còn có lý do xuất phát từ hỗ trợ lãi suất. Doanh nghiệp trong diện được hỗ trợ lãi suất nhờ có được nguồn vốn giá rẻ nên không phải lấy tiền của mình để sản xuất kinh doanh mà để số tiền đó trên tài khoản tiền gửi.

Khi dừng hỗ trợ lãi suất, buộc lòng nhóm đối tượng này rút tiền của mình ra khỏi tài khoản tiền gửi của ngân hàng để sản xuất kinh doanh, trong khi đó, nguồn tiền mà các ngân hàng thương mại đã giải ngân cho hỗ trợ lãi suất (ước hơn 412 nghìn tỷ đồng - PV) chưa kịp thu về. Thực tế này đã tạo ra thế "kẹt" cho các ngân hàng về mặt thời gian giữa "thu về" và "cho ra".

Từ đó, có một số ngân hàng thương mại bị căng thẳng về nguồn vốn, tuy nhiên, chưa đến mức mất thanh khoản. Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời can thiệp hỗ trợ để các ngân hàng này vừa duy trì khả năng thanh khoản vừa đủ vốn đáp ứng cho khách hàng. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát sao sự biến động hẫng hụt từ chính sách hỗ trợ lãi suất và tôi nghĩ, an toàn hệ thống vẫn được đảm bảo.

Từ thực tế Ngân hàng Nhà nước phải bơm thẳng "thuốc trợ lực" cho một số ngân hàng thương mại, bà nhận xét gì về cơ cấu danh mục tài sản của các ngân hàng hiện nay?

Câu chuyện về cơ cấu nguồn vốn ngân hàng, cơ cấu danh mục tài sản đã bền vững hay chưa không còn là mới nhưng vẫn nóng hổi từ nhiều năm nay. Mỗi lần đấu thầu tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ... thì các ngân hàng thương mại quy mô nhỏ chỉ có thể mua được với khối lượng ít cỡ vài chục tỷ đồng, chứ không phải vài trăm, vài nghìn tỷ đồng như các ngân hàng thương mại quốc doanh. Chúng tôi vẫn gọi đó là "lương khô" để các ngân hàng thương mại phòng khi "trái nắng trở trời".

Hơn nữa, vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại nhỏ gần đây được nâng lên khoảng 1.000 tỷ đồng, họ được huy động bên ngoài số lượng lớn gấp 10 hay 20 lần nhưng kể cả có được như thế cũng chẳng so được với những ngân hàng lớn. Chưa kể, với quy mô vốn còn nhỏ, áp lực lợi nhuận từ cổ đông quá cao thì việc muốn mua nhiều "lương khô" cũng chẳng thể được. Vì thế, mỗi lần đấu thầu các công cụ nợ của Nhà nước, hầu hết đều bị ngân hàng lớn thâu tóm.

Từ thực tế căng thẳng thanh khoản tại một số ngân hàng thương mại cổ phần gần đây, theo bà, họ phải chú ý những gì đối với vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản?

Quản trị rủi ro, bao gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp, rủi ro đạo đức... là bài toán vô cùng khó khăn mà lâu nay, Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng thường xuyên nhắc nhở, cảnh báo đối với lãnh đạo các ngân hàng thương mại nhằm ngăn ngừa các loại rủi ro nói trên.

Chẳng hạn, ai biết, ai quản trị được rủi ro đạo đức khi cán bộ một ngân hàng này thông đồng với cán bộ một ngân hàng khác, từ đó hình thành đường dây móc ngoặc làm ăn với nhau?

Tôi lấy ví dụ: một khách hàng A, gửi vào ngân hàng B chỉ 200 triệu đồng nhưng được cán bộ ngân hàng B xác nhận tới 1 tỷ đồng. Khách hàng A mang xác nhận này đến ngân hàng C đặt cọc và vay tới 800 triệu đồng. Lâu nay, kiểm soát việc "ai là người có thẩm quyền xác nhận số dư tiền gửi cho khách hàng" ở nhiều ngân hàng thương mại còn khá lỏng lẻo.

Hiện tại, Hiệp hội Ngân hàng đang nghiên cứu ý tưởng thành lập cơ quan lưu trữ dữ liệu, tích hợp các thông tin, vụ việc vi phạm, có đánh giá phân tích nguyên nhân (nghề nghiệp, đạo đức, luật pháp...), để cho hội viên tra cứu, nhằm phòng tránh loại rủi ro này.

Theo Nguyễn Hoài
Vneconomy

[XHTN] Phương pháp tính điểm xếp hạng tín nhiệm của Moody's


Phương pháp tính điểm xếp hạng tín nhiệm của Moody'sSau khi được nhiều bạn đọc liên hệ, tôi thấy rằng đa số các bạn đọc (chủ yếu là sinh viên) chưa hiểu rõ về cách tính điểm xếp hạng tín nhiệm nên tôi viết bài này nhằm diễn giải chi tiết hơn cách tính điểm xếp hạng dựa trên phương pháp xếp hạng tín nhiệm ngành bán lẻ toàn cầu của Moody's.

Moody's xếp hạng các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ dựa trên 6 nhân tố chính, trong đó bao gồm 16 nhân tố phụ. Tỷ trọng các nhân tố phụ được các chuyên gia của Moody's xây dựng và điều chỉnh để có thể đánh giá được tốt nhất các doanh nghiệp trong danh mục của Moody's.

Phương pháp tính điểm của Moody's qua 5 bước như sau:

B1: Từng nhân tố phụ sẽ sẽ được đánh giá theo các hạng mức từ Aaa đến Caa bằng cách so sánh giá trị từng nhân tố phụ của công ty với giá trị chuẩn mà Moody's đưa ra. Nhân tố đó nằm ở hạng mức nào thì sẽ ghi số 1 vào ô tương ứng với nó. Ví dụ, giá trị chuẩn mà Moody's đưa ra cho nhân tố phụ Doanh thu như sau

Công ty chúng ta đang xét có mức doanh thu 300 USDbn nên chúng ta ghi số 1 vào ô Aaa như ở Bảng 3

B2: Sau khi đã điền số 1 vào đầy đủ các nhân tố, chúng ta nhân các ô chứa số 1 này với Tỷ trọng nhân tố phụ ở Bảng 1 và tính tổng theo từng mức xếp hạng Aaa - Caa.

B3: Điều chỉnh theo Trọng số ứng với từng hạng mức. Tổng điểm của các nhân tố phụ ở B1 nằm trong mức từ Ba trở xuống thì trọng số của hạng mức sẽ càng cao (1.5, 2.8, 3). Sự điều chỉnh mang tính thận trọng này làm cho sự sụt giảm trong nhân tố này không thể bù đắp được bởi sự gia tăng của nhân tố khác, nhằm phân biệt tốt hơn nhóm đầu tư (invested grade) và không đầu tư (speculated grade).

B4: Trong bước này ta điều chỉnh điểm số ở B3 thành tỷ lệ phần trăm trên tổng điểm của các hạng mức.

B5: Nhân % điểm số ở B4 với Giá trị điều chỉnh thang đo để điều chỉnh sang thang đo của Moody's, chúng ta có tổng điểm là 4.4. So với Bảng 5 thì doanh nghiệp này được xếp hạng Aa.

Lê Tất Thành - www.rating.com.vn

[XHTN] Xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng - Phần 2

Phần này trình bày các nhân tố xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng của Moody's, bao gồm: Lơi thế kinh tế, Vị thế rủi ro, Môi trường pháp lý, Môi trường kinh doanh và Nền tảng tài chính

NHÂN TỐ 1: LỢI THẾ KINH TẾ

Đánh giá lợi thế kinh tế của một ngân hàng là yếu tố trung tâm trong phân tích của chúng tôi. Một lợi thế kinh tế vững chắc là nhân tố chính làm cơ sở để tạo ra và duy trì nguồn thu nhập của một tổ chức, do đó, giúp các ngân hàng duy trì và cải thiện khả năng phòng chống rủi ro trong những thị trường mục tiêu của nó. Tóm lại, các ngân hàng có lợi thế kinh tế mạnh có vị thế tốt hơn khi chống chọi với các điều kiện thị trường khó khăn kéo dài

Trong bảng điểm, Moody's tập trung vào 4 nhân tố phụ để đánh giá lợi thế kinh tế: Thị phần và tính ổn định, đa dạng hóa khu vực địa lý, tính ổn định của nguồn thu nhập, tính đa dạng hóa nguồn thu nhập

1. Thị phần và tính ổn định

Nhân tố phụ đầu tiên mà chúng tôi xem xét là thị phần và khả năng duy trì thị phần trong dài hạn. Thị phần lớn với một thương hiệu được nhận biết rộng rãi có liên quan chặt chẽ với khả năng trả giá (lãi suất) của ngân hàng. Những yếu tố này như các rào cản các đối thủ khác giành lấy thị phần và như một chỉ báo cho sự ổn định vị thế và khả năng bảo vệ mình của ngân hàng trước các đối thủ cạnh tranh.

Thị phần được sử dụng cho nhân tố phụ này được quyết định dựa trên nơi mà ngân hàng có thu nhập ròng chiếm đa số. Nó thường dựa trên khu vực địa lý, sản phẩm và khách hàng. Đối với những ngân hàng hoạt động trong nhiều khu vực địa lý khác nhau và/ hoặc nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, chúng tôi sẽ cố gắng ước lượng % thị phần thích hợp của nó.

Quy mô của bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào đều phụ thuộc vào đặc điểm của khách hàng, sản phẩm và sự tồn tại hoặc thiếu hụt của luật pháp hay các rào cản thâm nhập ngành. Thị trường thích hợp đối với các sản phẩm ngân hàng bán lẻ có thể là địa phương, trong khi đối với các sản phẩm khác là toàn quốc hay đa quốc gia. Thị trường tương ứng cũng có thể bao gồm các đối thủ cạnh tranh phi ngân hàng tùy thuộc vào sần phẩm hay dịch vụ mà họ đưa ra

Từ đặc điểm của thị trường, một ngân hàng không cần phải lớn mới có được thị phần lớn. Một ngân hàng nhỏ nhưng chi phối thị trường trong một phạm vi nhỏ và được bảo vệ, có thể có giá trị kinh tế được duy trì và nó sẽ chuyển thành nguồn thu nhập ổn định hơn so với các ngân hàng khác. Nói cách khác, một ngân hàng với quy mô tương tự hoặc thậm chí lớn hơn mà cạnh tranh trong thị trường ở phạm vi toàn cầu có thể có thị phần hạn chế hơn.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận ra rằng vị thế thị trường của ngân hàng có thể thay đổi theo thời gian. Xu hướng gần đây cũng sẽ được xem xét, cũng như các đặc điểm cụ thể của từng thị trường riêng biệt.

2. Đa dạng hóa khu vực địa lý

Nhân tố phụ thứ hai đánh giá mức độ đa dạng hóa khu vực kinh doanh của một tổ chức tín dụng. Nhìn chung, sự tập trung quá mức hoạt động cho vay tại một khu vực địa lý đơn lẻ với các hoạt động kinh tế không được đa dạng hóa làm gia tăng rủi ro tín dụng, suy yếu chất lượng tài sản và dễ bị tác động bởi các chu kỳ kinh doanh.

Mở rộng ra, với một ngân hàng nhỏ trong một khu vực đơn lẻ, chúng tôi tin rằng ngân hàng đó nhiều khả năng phải chịu sự biến động thu nhập lớn hơn các ngân hàng được đa dạng hóa khu vực hoạt động. Khu vực địa lý hạn chế thường phụ thuộc vào một số ít ngành kinh tế hơn các khu vực khác. Tuy nhiên, chúng tôi nhận ra rằng, vẫn có những ngoại lệ. Một vài khu vực nhỏ hơn có thể vẫn được đa dạng hóa cao, ngược lại các khuc vực lớn hơn có thể kém đa dạng hóa hơn

3. Tính ổn định nguồn thu nhập

Nhân tố phụ thứ 3 mà chúng tôi xem xét là mức độ có thể dự báo kết quả các lĩnh vực kinh doanh chính của một tổ chức tín dụng. Chúng tôi đánh giá cao các ngân hàng dựa trên hoạt động bán lẻ vì nó có thể tạo ra dòng thu nhập sau khi điều chỉnh rủi ro có thể dự báo được, và nó là tài sản vô giá trong giai đoạn thị trường biến động hoặc lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Sự ổn định thu nhập này thường là kết quả của những mối quan hệ khách hàng bền vững, danh mục cho vay gồm nhiều khoản nhỏ (granular loan portfolios) mà thường thấy ở các ngân hàng bán lẻ truyền thống. Ngân hàng bán sỉ/ ngân hàng dành cho doanh nghiệp thường chịu tính biến động cao hơn trong một thời gian ngắn và bị chi phối bởi các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng.

Chúng tôi chú thích rằng việc phân tích khả năng dự báo được kết quả các mảng kinh doanh chính của một ngân hàng cũng là một bộ phận không thể thiếu trong đánh giá năng lực quản trị rủi ro và vị thế rủi ro của một ngân hàng.

4. Tính đa dạng hóa nguồn thu nhập

Nhân tố thứ 4 mà chúng tôi phân tích là mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong bảng đánh giá, chúng tôi tập trung vào xem xét một ngân hàng có tính đa dạng hóa hay không, những ngân hàng nào mà chỉ dựa vào một lĩnh vực kinh doanh duy nhất, chúng tôi gọi là monoline, và nó sẽ nhận điểm E cho nhân tố phụ này. Niềm tin quá mức vào một hoạt động kinh doanh duy nhất có thể làm cho tổ chức tín dụng dễ bị tổn thương trước những thay đổi tiềm ẩn đột ngột và không thể dự báo trong thị trường mà nó hoạt động, trong khi lại không có nguồn thu nhập khác để tự bảo vệ trước tình trạng mất khả năng thanh toán. Trong bảng điểm xếp hạng, chúng tôi định nghĩa một ngân hàng như là một monoline nếu hơn 80% thu nhập ròng của nó xuất phát từ một hoạt động hay một sản phẩm duy nhất. Ví dụ như các tổ chức mà tạo ra hơn 80% lãi ròng từ thẻ tín dụng, cho thuê tài sản hoạt động và tài chính, cho vay mua ô tô, bao thanh toán, tín dụng bất động sản, tài trợ dự án, cho vay đầu tư chứng khoán ... Riêng đối với các ngân hàng bán lẻ, bởi đặc tính tự nhiên của nó đã được đa dạng hóa giữa hoạt động cho vay và nhận tiền gửi, sẽ không được coi như là monoline.

Nếu một ngân hàng monoline có được lợi thế từ thị phần lớn và thu nhập ổn định, những yếu tố tích cực đó sẽ được thể hiện ở các nhân tố phụ tương ứng. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng điểm số thấp hơn đối với nhân tố phụ "Đa dạng hóa nguồn thu nhập" thì thích hợp vì những ngân hàng monoline dễ bị tổn thương hơn trước những thay đổi tiềm ẩn của thị trường mà không có nguồn thu nhập khác bù đắp.

NHÂN TỐ 2: VỊ THẾ RỦI RO

Vị thế rủi ro của ngân hàng là một nhân tố định tính quan trọng trong phân tích tín dụng của Moody's. Cách tiếp cận của ban quản lý để quản trị các rủi ro là thành phần chính yếu làm nền tảng cho các quyết định mang tính chiến lược và có thể là nền tảng cho cả các quyết định tiếp theo sau đó. Chúng tôi nhận thấy rằng các quy tắc, quan điểm về rủi ro thì song hành với chiến lược của ngân hàng.

Trong phương pháp phân tích của chúng tôi, chúng tôi dựa trên sự kết hợp các đánh giá định tính và định lượng để có thể cung cấp cái nhìn thấu đáo về các nguyên tắc quản trị rủi ro và hiệu lực quản trị rủi ro của một ngân hàng. Quản trị rủi ro ám chỉ việc giảm thiểu hoặc kiểm soát rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Những rủi ro này ảnh hưởng đến khả năng dự báo thu nhập và lợi nhuận cơ bản của ngân hàng, và trong một vài trường hợp gây nguy hiểm đến vị thế tín dụng của ngân hàng nếu chúng không được quản trị hợp lý. Các nhân tố phụ khi đánh giá Vị thế rủi ro là quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức, quyền kiểm soát và quản trị rủi ro, tính minh bạch của báo cáo tài chính , mức độ tập trung rủi ro tín dụng, quản trị thanh khoản, tham vọng rủi ro thị trường

1. Quản trị xung đột lợi ích trong tổ chức

Bao gồm: quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức, rủi ro nhân sự chủ chốt, và rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ

a. Quyền sở hữu và tính phức tạp của tổ chức
Moody's tin rằng tại các ngân hàng có cơ cấu sở hữu phức tạp, ban quản trị có thể gặp khó khăn nhiều hơn khi áp dụng quan điểm giám sát độc lập đối với các cổ đông đang nắm quyền kiểm soát ngân hàng. Người ta có thể cho rằng, các cổ đông lớn, các chủ sở hữu mang tính gia đình, có thể khuyến khích các quyết định mang đến lợi ích dài hạn. Tuy nhiên, ban giám đốc của một tổ chức bị kiểm soát phải quản trị các xung đột lợi ích tiềm tàng giữa lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và lợi ích của các cổ đông thiểu số. Nhiệm vụ của ban quản trị trở nên khó khăn hơn khi cơ cấu tổ chức có tính phức tạp cao và/ hoặc khi các cổ đông kiểm soát nắm giữ các vị trí điều hành chủ yếu.

b. Rủi ro nhân sự chủ chốt
Cách đánh giá chất lượng quản trị của Moody được bao hàm bởi một nhóm các nhân tố xếp hạng sức mạnh tài chính, ví dụ, quan điểm chiến lược và thành tích tài chính quá khứ của ngân hàng. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là mức độ mà một ngân hàng phụ thuộc vào một ủy viên ban quản trị riêng lẻ hoặc một nhóm các ủy viên, mà những cá nhân này chi phối các vị trí ra quyết định chủ yếu. Từ đó, chúng tôi tin điều này có thể tạo ra rủi ro nhân sự chủ chốt, vì việc đánh mất các cá nhân như vậy có thể tác động bất lợi đến tương lai của ngân hàng, ngay cả đối với các ngân hàng đã có quy trình tuyển chọn người kế vị rõ ràng

c. Rủi ro liên quan đến các nhóm lợi ích khác nhau trong nội bộ
Một quy trình phê duyệt tín dụng độc lập cần thiết đối với khả năng thanh toán của ngân hàng. Chúng tôi tin rằng sự mở rộng tín dụng dành cho các nhân viên trong nội bộ ngân hàng - mà còn được gọi là các khoản cho vay đến những người có liên quan - ám chỉ rằng các tiêu chuẩn xét duyệt đã bị phá vỡ, hoặc tối thiểu cũng nói lên rằng các tiêu chuẩn đã không được áp dụng một cách chuẩn mực. Những khoản vay như vậy có thể tạo ra nhiều khó khăn hơn đối với ban quản trị, bởi vì các xung đột lợi ích cố hữu của nó. Những khoản cho vay này đặc biệt gây ra nhiều rắc rối, khi nó được xét duyệt cho các cổ đông nắm quyền kiểm soát hoặc các thành viên quản trị ngân hàng (hoặc những người có liên quan với họ).

Tính độc lập thấp làm gia tăng rủi ro của ngân hàng. Vì lý do này, Moody tin rằng sự có mặt của một vài thành viên quản trị độc lập trong ban quản trị của ngân hàng thì quan trọng (như tiến sĩ Trần Xuân Giá là một thành viên độc lập của ACB) và nó sẽ làm tăng điểm số đối với các ngân hàng kém cỏi chưa bổ nhiệm các thành viên quản trị độc lập và không quan tâm đến cơ cấu sở hữu

2. Quyền kiểm soát và quản trị rủi ro

Chúng tôi quan tâm tới hệ thống quản lý, hệ thông kiểm soát nội bộ và sự cân bằng giữa chúng như là một phương tiện để giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tổng thể của ngân hàng. Chú ý rằng quyền kiểm soát tại ngân hàng đang được chia nhỏ trong những năm gần đây, phản ánh sự phức tạp ngày càng cao hơn để tạo ra sự hòa hợp trong ngân hàng, tầm quan trọng gia tăng trong các hoạt động kinh doanh tại một số ngân hàng, tác dộng của tiến bộ kỹ thuật, sự mở rộng tự do tài chính, và sự thay đổi các luât lệ. Cũng trong thời gian này, các ngân hàng đang đầu tư nguồn lực lớn hơn để đo lường và kiểm soát rủi ro kinh doanh, theo như Basel II, các ngân hàng phải nắm giữ một tỷ lệ vốn tổi thiểu để đảm bảo cho các rủi ro kinh doanh

3. Tính minh bạch của báo cáo tài chính
Tính minh bạch của báo cáo tài chính là một yếu tố quan trọng trong phân tích chiến lược và vị thế rủi ro của ngân hàng, vì dữ liệu tài chính và hoạt động kinh doanh được báo cáo bởi ngân hàng là điểm khởi đầu trong phân tích tín dụng của chúng tôi. Thêm vào đó, báo cáo tài chính nghèo nàn thường che dấu các rủi ro trong ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng sự minh bạch và thông tin tài chính đúng hạn thì phù hợp với những ngân hàng có sức mạnh tài chính vững vàng.

Các nhân tố được xem xét khi đánh giá tính minh bạch BCTC của ngân hàng là: thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu, các báo cáo thường xuyên và đúng hạn, chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng

a. Thông tin tài chính được báo cáo có thể so sánh được trong phạm vi toàn cầu: Moody's tin rằng các báo cáo tài chính được thiết lập dựa trên IFRS, US, GAAP hay bất kỳ tiêu chuẩn kế toán tương tự nào mang tính toàn cầu, hoặc được kiểm toán bởi các công ty hàng đầu đề có thể so sánh được với nhau. Bất kỳ một sai lệch có ý nghĩa nào xảy ra sẽ làm cho điểm số minh bạch tài chính của ngân hàng giảm xuống

b. Các báo cáo thường xuyên và đúng hạn: Theo quan điểm của chúng tôi, các báo cáo tài chính theo quý và năm cần được báo cáo thường xuyên và đúng hạn mới có thể đạt được điểm số xếp hạng cao

c. Chất lượng các thông tin được báo cáo bởi ngân hàng: Chất lượng thông tin tài chính khác nhau một cách có ý nghĩa tại các ngân hàng được chúng tôi xếp hạng. Nhìn chung, chúng tôi mong đợi rằng các ngân hàng sẽ đưa ra các báo cáo tài chính được trình bày rõ ràng và dễ hiểu hơn đến người sử dụng, công khai tất cả các thông tin quan trọng như danh mục các khoản cho vay lớn, các khoản nợ xấu, mức trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu, tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro. Chúng tôi cũng tiếp xúc với ban quản trị để có hiểu biết toàn diện hơn về rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và giá trị tại rủi ro của ngân hàng

4. Mức độ tập trung rủi ro tín dụng

Sự tập trung tín dụng lớn trong các khoản cho vay, kinh doanh và danh mục đầu tư gia tăng rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Vì vậy, chúng tôi tin rằng các khoản tín dụng lớn cung cấp cho một vài người vay tiền, ngành hay khu vực đơn lẻ là căn nguyên tiềm tàng của biến động thu nhập.

Các thước đo mà chúng tôi sử dụng để đo lường mức độ tập trung rủi ro tín dụng là mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào khách hàng và mức độ tập trung rủi ro tín dụng vào ngành.

5. Quản trị thanh khoản

Moody's tin rằng hầu hết các ngân hàng phá sản đầu tiên và trước hết là bởi vì mất thanh khoản. Khi một ngân hàng hoạt động mà không có tiền mặt, nó không thể thực hiện được các chức năng của mình. Nói một cách khác, thanh khoản mạnh có thể giúp một ngân hàng yếu về các mặt khác duy trì được nguồn tiền thỏa đáng để tài trợ cho chính bản thân nó trong suốt giai đoạn khó khăn. Vì vậy, một trong những mục tiêu cốt yếu trong phân tích sức mạnh tài chính của ngân hàng là đánh giá khả năng tự tài trợ trong giai đoạn khó khăn về tài chính.

Phân tích khả năng quản trị rủi ro thanh khoản của Moody's bắt đầu bằng việc đánh giá mức độ các tài sản không có khả năng thanh khoản của ngân hàng được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ có ổn định hay không (chủ yếu là các khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, nợ dài hạn hay vốn cổ phần). Những ngân hàng có nguồn tài trợ ổn định vượt trội các tài sản kém thanh khoản nhìn chung đối mặt với rủi ro thanh khoản thấp.

6. Tham vọng rủi ro thị trường

Khi đánh giá tham vọng rủi ro thị trường của ngân hàng, giả định của chúng tôi là đối với một tham vọng rủi ro lớn hơn, họ cũng kỳ vọng đạt được một tỷ suất sinh lợi lớn hơn. Vì tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trong trường hợp này gia tăng tính biến động thu nhập và vì vậy quy mô của các khoản tổn thất tín dụng tiềm ẩn không được mong đợi gia tăng và ngược lại.

Người ta có thể cho rằng, thực tiễn quản trị rủi ro làm cho nhà quản trị chọn mức độ rủi ro tương thích với rủi ro mục tiêu của toàn ngân hàng và hạng mức tín nhiệm mà nó mong muốn duy trì. Cách đánh giá năng lực quản trị rủi ro của Moody's nhằm vào đánh giá mối quan hệ giữa tham vọng rủi ro và khả năng quản trị rủi ro của nó.

Mục tiêu của Moody's khi phân tích rủi ro thị trường là đánh giá độ nhạy của các khoản mục kinh doanh đối với các biến tài chính chính yếu bao gồm lãi suất, giá cổ phần, tỷ giá hối đoái và độ trải rộng tín dụng (credit spread). Chúng tôi xem xét kết quả thông qua kiểm định mô phỏng tình trạng kiệt quệ tài chính hoặc đo lường các tài sản có rủi ro (economic capital) hoặc nếu không có giá trị, chúng tôi tìm kiếm các thước đo rủi ro thị trường khác như VaR hoặc phân tích độ nhạy cảm lãi suất

NHÂN TỐ 3: MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ

Moody tin rằng sức mạnh tài chính của một ngân hàng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các luật lệ ngân hàng. Sức mạnh tài chính của một ngân hàng thường được cải thiện cùng với sự tồn tại một hệ thống luật pháp ngân hàng độc lập được tín nhiệm các điều khoản phù hợp với thực tiễn toàn cầu và được giải thích rõ ràng. Mục tiêu chính của hệ thống pháp lý ngân hàng thường tập trung bảo vệ người gửi tiền vào ngân hàng và thúc đẩy xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh để hỗ trợ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

1. Tính độc lập

Khi đánh giá môi trường pháp lý, đầu tiên chúng tôi xem xét sự độc lập của các nhà làm luật mà chúng tôi tin tưởng là cần thiết đối với một hệ thống pháp lý ngân hàng hiệu quả. Từ đó, chúng tôi mở rộng xem xét các tiêu chuẩn và luật lệ có bị tác động bởi các ngành kinh doanh hay yếu tố chính trị không, các luật lệ có dễ hiểu và rõ ràng hay không

2. Các tiêu chuẩn

Các tiêu chuẩn ngân hàng được ban hành nhằm gia tăng tính minh bạch và cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Để đánh giá các tiêu chuẩn này, chúng tôi dựa trên các tiêu chuẩn thực hành tốt nhất mà được ban hành bởi Basel.

Nhiều nhà làm luật đã mở rộng các tiêu chuẩn do Basel ban hành và trông có vẻ tốt về mặt lý thuyết, nhưng chúng lại không theo sát và không có hiệu lực trong thực tế. Một số nhà làm luật thì ngầm thông qua các luật lệ bất thành văn và thuyết phục về mặt đạo đức nghề nghiệp, nhưng chúng lại rất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu thiếu sót các luật lệ và tiêu chuẩn được ban hành, thì tính độc lập của các nhà làm luật và chất lượng giám sát nhất thiết phải được nâng cao lên nhiều lần.

Theo quan điểm của Moody's, các nhà làm luật nên thiết lập các tiêu chuẩn về cấp phép thành lập, vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản.

a. Cấp phép thành lập: Các tiêu chuẩn để được cấp phép hoạt động quan trọng bởi vì các ngân hàng được thành lập mới luôn có rủi ro cao hơn các ngân hàng đã đi vào hoạt động ổn định. Một số lượng lớn các ngân hàng đăng ký mới không được quản lý và giám sát cẩn thận có thể tạo ra rủi ro đáng kể không chỉ đối với ngân hàng đó mà còn đối với cả hệ thống ngân hàng.

b. Yêu cầu vốn tối thiểu là phấn thiết yếu trong các luật lệ ngân hàng, chúng tôi xem xét các ngân hàng có thi hành hiệp ước vốn Basel một cách thận trọng hay không

c. Chất lượng tài sản: Các nhà làm luật thiết lập các tiêu chuẩn về chất lượng tài sản và giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn đó. Chúng tôi xem xét định nghĩa của ngân hàng về nợ xấu có thận trọng và đồng nhất hay không, các hướng dẫn dự phòng tổn thất tín dụng, tái phân loại nợ và các bút toán xóa nợ có đáng tin cậy hay không, các điều khoản hạn chế cho vay số lượng lớn đối với các thành phần có liên quan đến nhân viên cấp cao trong ngân hàng...

d. Tính thanh khoản: Vấn đề này đã được đề cập ở trên, nhưng ở đây chúng tôi nói về khía cạnh pháp lý của nó. Tức là các nhà làm luật có hướng dẫn và yêu cầu quản trị thanh khoản không, có yêu cầu báo cáo thường xuyên về vị thế thanh khoản không, các ngân hàng có kế hoạch đối phó với các tính huống xấu xảy ra bất ngờ như khi không thể thâm nhập thì trường vốn trong một thời gian dài hay khi xảy ra các cú sốc kinh tế hay không.

3. Sự giám sát (không đề cập)
4. Sự cưỡng chế thi hành (không đề cập)
5. Sự trưởng thành của hệ thống pháp luật (không đề cập)

6. Sức khỏe của hệ thống ngân hàng

Như đã ám chỉ ở trên, sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia có tương quan với sức mạnh của môi trường pháp lý ngân hàng. Trong khi sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng phải chịu tác động từ sự biến đổi các nhân tố vĩ mô vượt ngoài tầm kiểm soát của các nhà làm luật, sự tồn tại luật lệ ngân hàng và hệ thống giám sát hiệu quả, đáng tin cậy và tiên phong có thể giúp ngân hàng khắc phục được phần nào các bất lợi này.

NHÂN TỐ 4: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thường bị chi phối bởi môi trường kinh doanh của nó, và ở những nơi mà các điều kiện đặc biệt khó khăn, các ngân hàng thường được nói là nạn nhân trong môi trường của họ. Chu kỳ kinh tế khắc nghiệt, các quyết định mang tính chính trị gây nguy hại cho hoạt động kinh doanh, hệ thống luật pháp yếu kém và môi trường cạnh tranh không công bằng có thể tác động riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau làm suy yếu khả năng thanh toán của ngân hàng. Trong nhiều nhân tố, Moody's tin rằng các nhân tố chính là biến động của nền kinh tế, hiệu quả của hệ thống pháp luật, hiệu quả của các tổ chức chính trị và xã hội, động lực cạnh tranh và cấu trúc ngành ngân hàng

Trong phân tích ban đầu của chúng tôi về môi trường kinh doanh để cho điểm sức mạnh tài chính tập trung vào 3 thước đo khác nhau, tất cả chúng đều có thể được định lượng. Chúng tôi chọn các thước đo này như là cách tốt nhất để nắm bắt các khác biệt lớn trong các môi trường kinh doanh khác nhau. Thực tế, Moody's đánh giá môi trường kinh doanh của một nước ít nhất một lần trong mỗi năm. Đánh giá đó sẽ được áp dụng đối với tất cả các ngân hàng hoạt động trong cùng hệ thống. Đối với những ngân hàng có một phần tài sản hoặc lợi nhuận đáng kể (hơn 20%) từ quốc gia khác (quản lý trực tiếp hoặc công ty con), chúng tôi sẽ tính toán điểm môi trường kinh doanh đối với mỗi nhân tố phụ dựa trên hỗn hợp tài sản và lợi nhuận của nó. Từ đó, phản ánh môi trường kinh doanh tổng thể của ngân hàng

1. Tính ổn định của nền kinh tế

Một sự sụt giảm lớn trong tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan với sự suy yếu trong chất lượng tài sản. Vì vậy, khi tất cả các điều kiện khác là như nhau, những quốc gia với các chu kỳ kinh tế biến động mạnh hơn thì rủi ro hơn đối với các hoạt động kinh doanh.

Chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp hóa cao thường biến động ít hơn, với tăng trưởng GDP tăng giảm từ 1 -2% trong suốt 2/ 3 của 20 năm qua. Các nền kinh tế đang phát triển biểu hiện sự biến động mạnh hơn trong chu kỳ kinh tế, với độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP trong khoảng 7 -12%. Dựa trên độ lệch chuẩn của tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa, chúng tôi tính điểm nhân tố "Tính ổn định của nền kinh tế" cho mỗi quốc gia.

2. Liêm chính và tham nhũng

Tham nhũng có thể làm cho môi trường kinh doanh không thể dự báo được và lãng phí. Tham nhũng trong nền kinh tế tạo ra khó khăn đối với các ngân hàng, thậm chí ngay cả khi hoạt động kinh doanh trong nội bộ của nó không có tham nhũng.

Tại cấp độ vĩ mô, tham nhũng gây lãng phí và các nguồn lực không được phân phối đúng nơi, vì vậy giới hạn tăng trưởng kinh tế. Tại cấp độ vi mô, tham nhũng có thể làm hủy hoại thông tin kế toán và các thông tin khác mà các quyết định tín dụng được đưa ra dựa trên các thông tin đó.

Bởi vì rất khó để có thể đánh giá chính xác mức độ tham nhũng dựa trên các dữ liệu thô. Vì vậy, chúng tôi chọn chỉ số Khả năng kiểm soát tham nhũng của World Bank (WB CC) - chỉ số nhằm xếp hạng mức độ sử dụng tài sản công hay quyền lực chính trị để tư lợi trong mỗi quốc gia. Điểm số cho mỗi quốc gia sẽ dựa trên chỉ số này. (Việt Nam có điểm số là - 0.76 trong năm 2008, đứng thứ 167 trong 212 quốc gia được World Bank xếp hạng).

3. Hệ thống luật pháp

Phần lớn hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa trên các hợp đồng, khế ước vay nợ, các khoản bảo đảm, thế chấp, ký quỹ và các hợp đồng phái sinh. Hầu hết các nhà quản trị giảm nhẹ hoặc kiểm soát rủi ro dựa trên các dự báo và sự công bằng của hệ thống luật pháp. Giá trị tiền tệ theo thời gian cũng đặt ra một phần bù rủi ro dựa trên sự tiến triển của hệ thống luật pháp

Từ các lý do này, chúng tôi cho điểm hệ thống luật pháp của mỗi quốc gia căn cứ vào thời gian một ngân hàng chuyển nhượng xong quyền sở hữu bất động sản thế chấp khi khách hàng không thể trả được nợ. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, thời gian này ít hơn một năm đối với các quốc gia có ngân hàng hiệu quả - tòa án thân thiện và luât lệ vững chắc. Tuy nhiên, những nơi mà tòa án không hiệu quả, tham nhũng hoặc bảo hộ cho lợi ích của các cá nhân, ngân hàng có thể tốn từ 5 -10 năm xử lý bất động sản thu hồi nợ, điều này có thể làm sụt giảm đáng kể giá trị các tài sản thế chấp của ngân hàng.

NHÂN TỐ 5: NỀN TẢNG TÀI CHÍNH

Nền tảng tài chính là cách tương đối dễ dàng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong phạm vi toàn cầu, bởi vì nhìn chung ngân hàng có hai hoạt động chính là mươn tiền và cho vay tiền. Moody's xem xét nhân tố nền tảng tài chính theo 4 nhân tố phụ sau: khả năng sinh lợi, tính thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả hoạt động, chất lượng tài sản.

1. Khả năng sinh lợi

Khả năng sinh lời là yếu tố chính quyết định thành công hay thất bại dài hạn của một tổ chức tài chính. Nó đo lường khả năng tạo ra giá trị kinh tế và từ đó gia tăng các nguồn lực để duy trì hoặc cải thiện khả năng phòng chống rủi ro cho các chủ nợ. Moody's tin rằng sự tái tạo khả năng sinh lợi là biện pháp đầu tiên để chống lại các khoản thua lỗ tín dụng. Tuy nhiên, thu nhập cần được đo lường theo sự biến động. Trong các tỷ số của chúng tôi, chúng tôi tìm được tỷ số đảm bảo cho các chủ nợ trong khi đo lường thu nhập mà có liên quan với bảng cân đối tài sản và các rủi ro khác. Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thức được rằng các nhà quản trị ngân hàng có thể sẽ phải để tâm đến các nhu cầu của cổ đông. Mở rộng ra, các tỷ số như tăng trưởng ROE hay EPS sẽ tác động đến các chiến lược của ban quản trị, nên chúng tôi sẽ quan sát chúng để phán đoán các áp lực mà nhà quản trị phải đối mặt.

2. Tính thanh khoản

Tất thanh khoản hầu như luôn là nguyên nhân gần nhất làm cho các ngân hàng phá sản, trong khi thanh khoản mạnh giúp các ngân hàng yêu kém về các mặt khác có thể duy trì thỏa đáng nguồn tiền trong suốt thời gian khó khăn. Một trong những mục tiêu chính trong phân tích BSFRs là đánh giá khả năng tự tài trợ của nó khi gặp phải tính trạng suy kiệt tài chính.

3. An toàn vốn

So với hầu hết các ngành khác, ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao. Theo thống kê, các ngân hàng phá sản hều hết bởi thua lỗ trong danh mục cho vay, mô hình kinh doanh nghèo nàn hoặc lừa đảo. Các nhân tố này rốt cuộc đều làm suy giảm nguồn vốn, nhưng sự suy giảm vốn không phải là căn nguyên dẫn đến sự phá sản của ngân hàng. Như chúng tôi đã nói nhiều lần, vốn thì quan trọng, nhưng nó không phải là chỉ báo cho sức khỏe tín dụng, và vì vậy hiếm khi tác động đến mức xếp hạng. Thực tế, theo dữ liệu lịch sử, tỷ số đòn bẩy có tương quan dương với mức xếp hạng - các ngân hàng được xếp hạng cao có đòn bẩy cao hơn các ngân hàng được xếp hạng thấp hơn. Bởi vì chúng tôi tin rằng lợi ích từ mở rộng mô hình kinh doanh, một "hỗn hợp" các hoạt động kinh doanh được đa dạng hóa, quản trị rủi ro tốt và ổn định, thu nhập có thể dự báo được vượt trội các bất lợi do tỷ số vốn yếu gây ra.

Theo như các quy định đặt ra, các ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu an toàn vốn tối thiểu. Các ngân hàng có nguồn vốn thặng dư, vượt quá yêu cầu an toàn vốn tối thiểu có nhiều thuận lợi hơn khi thâm nhập thị trường vốn và cung cấp cho ban quản trị sự linh hoạt tài chính để nắm bắt các cơ hội thâu tóm, mua lại hay tái cơ cấu hoạt động.

Các tranh luận về nguồn vốn trở nên nổi bật hơn tại thời điểm xảy ra hoạt động thâu tóm. Bởi vì các tổ chức tài chính thường gia tăng đòn bẩy tài chính để tài trợ cho giao dịch này. Ở một khía cạnh khác, nguồn vốn cũng đáng chú ý hơn khi một ngân hàng có tình trạng tài chính yếu kém.

4. Hiệu quả hoạt động

Ngân hàng là ngành tập trung cao yếu tố công nghệ và con người, và chính sách cắt giảm chi phí là tiêu điểm chiến lược để các ngân hàng đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn. Sư gia tăng đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm ngân hàng làm cho việc tăng doanh thu trở thành một nhiệm vụ khó khăn. Phân tích của chúng tôi tập trung vào cả những nỗ lực của ban quản trị để kiểm soát và cắt giảm các chi phí, và kết quả đem lại thực sự.

5. Chất lượng tài sản

Chất lượng tài sản quyết định thu nhập trong tương lai của ngân hàng, tạo ra hay xói mòn nguồn vốn. Danh mục các khoản cho vay nhìn chung là thành phần lớn nhất trong bảng cân đối tài sản của một ngân hàng. Vì vậy, chất lượng các khoản cho vay được xem là thành phần chính quyết định khả năng trả nợ của ngân hàng.

CÁC TỶ SỐ ĐƯỢC CHỌN

Vì xếp hạng của Mody's phân loại rủi ro mà có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu. Nên bảng điểm của Moody's tập trung vào các tỷ số vừa có ý nghĩa trong đánh giá rủi ro tín dụng và vừa có thể tính toán được đối với hầu hết các ngân hàng trên thế giới. Để giảm biến động khi xét bất kỳ một giai đoạn riêng lẻ nào, chúng tôi chọn cách tính toàn các tỷ số trung bình trong 3 năm:

1. Khả năng sinh lợi

Thu nhập trước thuế và dự phòng thua lỗ tín dụng/ tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: lợi nhuận trước khi trích lập dự phòng phản ánh thu nhập cốt lõi của một ngân hàng, và đảm bảo cho việc bù đắp các khoản lỗ nếu có trong tương lai. Lợi nhuận được tính với tài sản sau khi đã điều chỉnh rủi ro, như là một khoản đảm bảo cho những người gửi tiền. Cách tính này cung cấp một đánh giá tốt hơn về rủi ro so với việc dùng tổng tài sản, bởi vì nó phản ánh rủi ro trong bảng cân đối và kế toán ngoài bảng. Dù sao, chúng tôi cũng biết rằng việc đánh giá tài sản rủi ro này vẫn chưa thật sự hoàn hảo. Khi dữ liệu về tài sản đã điều chỉnh rủi ro không thể tiếp cận được, chúng tôi sẽ tính nó dựa trên bảng cân đôi kế toán, kế toán ngoài bảng và các trọng số rủi ro tiêu chuẩn, những ước lượng này cũng tương đương tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro.

Thu nhập thuần/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro trung bình: Thu nhập ở đây được tính sau tất cả các chi phí.

2. Tính thanh khoản

(Nguồn vốn từ thị trường trừ tài sản có tính lỏng)/ Tổng tài sản: Nguồn vốn từ thị trường bao gồm tất cả các khoản nợ ngắn và dài hạn. Tỷ số này thể hiện mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn bên ngoài

3. An toàn vốn

Tỷ số trong Basel I (Tier 1 Basel Regulotory Ratio): Đây là tỷ số theo Basel I được báo cáo bởi các ngân hàng (Nguồn vốn/ Tài sản đã điều chỉnh rủi ro). Tỷ số này được ưa chuộng bởi vì nó gần với vốn cổ phần và không bao gồm nợ dưới chuẩn. Các khoản nợ dưới chuẩn thường không thể giảm thiểu thiệt hại trừ phi có tính thanh khoản cao, và chúng không cung cấp sự đảm bảo trước rủi ro mất khả năng thanh toán.

Vốn cổ phần hữu hình/ Tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro: Chỉ số này phản ánh rủi ro của tài sản ngân hàng (trong và ngoài bảng cân đối kế toán). Vốn cổ phần hữu hình được tính bằng tổng vốn cổ phần trừ đi các khoản : cổ phần ưu đãi, lợi ích cổ đông thiểu số, dự phòng lãi lỗ chưa thực hiện từ kinh doanh chứng khoán, dự phòng định giá lại tài sản, điều chỉnh dòng tiền phát sinh chưa thực hiện từ các công cụ phái sinh, lợi thế thương mại và các tài sản vô hình khác.

4. Hiệu quả hoạt động

Tỷ số này được đo lường bởi tổng chi phí không bao gồm lãi vay phải trả để tạo ra tổng thu nhập (mà được tính toán như Tổng thu nhập lãi thuần + Tổng thu nhập phi lãi vay bao gồm cả lợi nhuận hay thua lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán). Tỷ số này đo lường hiệu quả của ngân hàng và khả năng tạo ra lợi nhuận mà không cần phải gia tăng doanh thu

5. Chất lượng tài sản

Tỷ số nợ xấu/ Tổng nợ: Các khoản nợ xấu bao gồm các khoản cho vay sụt giảm giá trị như được định nghĩa tại IAS 39, dành cho các ngân hàng kế toán theo IFRS hoặc hệ thống kế toán tương tự; hoặc các khoản cho vay không tích lũy + các khoản cho vay tích lũy quá hạn 90 ngày hoặc nhiều hơn đối với các ngân hàng kế toán theo tiêu chuẩn của Mỹ hoặc các hệ thống kế toán tương tự; đối với các ngân hàng không kế toán theo IFRS, Moody's sẽ ước lượng mức độ các khoản cho vay có vấn đề bằng cách phân loại các nợ của ngân hàng.

Tỷ số Nợ xấu/ (Vốn cổ phần thường + Dự phòng tổn thất tín dụng): Chúng tôi cộng các khoản Dự phòng tổn thất tín dụng vào mẫu số hơn là trừ ra khỏi tử số, để dễ so sánh đối với các ngân hàng khác nhau về chính sách dự phòng và xóa bỏ tài sản (write-off).

(Hết)

Lê Tất Thành - www.rating.com.vn
Lược dịch dựa trên bản xếp hạng sức mạnh tài chính các Ngân hàng của Moody's (2006)

[XHTN] Các phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp điển hình trên thế giới - Phần 1

Các phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp điển hình trên thế giới - Phần 1Xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp xếp hạng tín dụng chính là mô hình toán học và phương pháp chuyên gia:

1. Mô hình toán học xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp

Trước khi quyết định đánh giá tín nhiệm và ước lượng rủi ro tín dụng phát triển thành những mô hình toán học và thống kê, việc cấp tín dụng hoàn toàn dựa trên phương pháp xét đoán. Phương pháp này sử dụng mọi loại thông tin liên quan đến khách hàng mà các chuyên viên tín dụng thấy cần thiết và dùng các phán đoán chủ quan để đánh giá rủi ro.

Phương pháp xét đoán do vậy có nhiều thiếu sót. Đầu tiên, phương pháp không đáng tin cậy vì nó phụ thuộc vào cách thức của mỗi chủ nợ; thứ hai, quyết định có thể thay đổi từ người này sang người khác nên khó tranh luận và truyền thụ; thứ ba là không thể giải quyết với số lượng lớn hoặc phải duy trì một hệ thống chuyên viên phân tích chi phí cao.

Vì vậy, khi có sự phát triển của khoa học thống kê, những phương pháp phân tích, phân lớp và dự báo nhanh chóng được ứng dụng và đã bổ sung hiệu quả cho phương pháp truyền thống, từ lượng hóa các chỉ tiêu đến dự báo rủi ro tín dụng . Hiện nay, các ứng dụng thống kê trong xếp hạng tín nhiệm lại đang chuyển mình từ mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro tín dụng sang mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ nợ (chủ yếu là các ngân hàng).

1.1. Chỉ số Z của Edward I. Altman

Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I. Altman (1968), Đại Học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ. Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian... Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA).

Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ số X1, X2, X3, X4, X5:

X1=

Vốn luân chuyển

Tổng tài sản

  • Vốn luân chuyển = tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
  • Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sẽ làm giảm tỷ số X1

X2 =

Lợi nhuận giữ lại

Tổng tài sản

  • Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian.
  • Sự trưởng thành của công ty cũng được đánh giá qua tỷ số này. Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tích lũy lợi nhuận. Theo một nghiên cứu của Dun & Bradstreet (1993), khoảng 50% công ty phá sản chỉ hoạt động trong 5 năm.

X3 =

EBIT

Tổng tài sản

  • Sự tồn tại và khả năng trả nợ của công ty sau cùng đều dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó. Vì vậy, tỷ số này, theo Atlman thể hiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lợi.

X4 =

Giá thị trường của vốn cổ phần

Giá sổ sách của nợ

  • Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
  • Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi
  • Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Đây là một phiên bản đã được sửa đổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất sinh lợi của trái phiếu (1959). Nếu tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công ty phá sản là rất cao.
  • Đối với công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị sổ sách của vốn cổ phần.

X5 =

Doanh thu

Tổng tài sản

  • Đo lường khả năng quản trị của công ty để tạo ra doanh thu trước sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác.
  • Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao.
  • X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các ngành khác nhau và các quốc gia khác nhau.

Một số nghiên cứu vào thập niên 1960 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là tỷ số rất tốt để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòng tiền và khấu hao của các doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số Z của Altman không bao gồm các tỷ số có liên quan đến dòng tiền. Điều này khá phù hợp với thực trạng về thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, hơn nữa chỉ số Z đã được sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác 95% đối với mẫu dữ liệu) và nhiều nước khác thì rất có thể cũng sẽ thực hiện tốt tại Việt Nam trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay dự báo phá sản.

Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:

Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.64X4 + 0.999X5

  • Nếu Z >2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
  • Nếu 1.8<>
  • Nếu Z <1.8:>

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:

Z' = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.42X4 + 0.998X5

  • Nếu Z' > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
  • Nếu 1.23 <>
  • Nếu Z' <1.23:>

Đối với các doanh nghiệp khác:

Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra.

Z" = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4

  • Nếu Z" >2.6: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
  • Nếu 1.2 <>
  • Nếu Z <1.1:>

Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Altman đã nghiên cứu trên 700 công ty để cho ra chỉ số Z" điều chỉnh:

Z"điều chỉnh = 3.25 + Z" = 3.25 + 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4

Z" điều chỉnh có tương đồng khá cao với các hạng mức tín nhiệm trái phiếu của S&P. Hàm ý rằng các mô hình toán học có thể sánh ngang với phương pháp chuyên gia.

Nguồn: Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm"

Để xem xét chỉ số Z hoạt động như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam, tác giả lấy ví dụ về Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) - công ty niêm yết điển hình có nhiều triệu chứng đang trước ngưỡng phá sản trong năm qua (Tháng 7/2008, Ngân hàng Hàng hải Việt Nam bắt đầu gửi thông báo nợ quá hạn đến BBT).

BBT đã cổ phần hóa từ năm 1997 và là công ty sản xuất nên áp dụng công thức:

Vì trong hai năm 2006 và 2007, các cổ đông không biết là BBT bị lỗ, cộng với tính không hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam nên giá cổ phiếu vẫn gia tăng theo thị trường. Nếu giá thị trường không thay đổi gì so với năm 2005 thì chỉ số Z năm 2006 và 2007 lần lượt là 1.64 và 1.04, tức là chỉ số Z giảm dần từ 2.41 điểm (2002) đến -0.41 điểm (2008).

Từ kết quả này, cho thấy, chỉ số Z phản ánh gần sát với tình trạng thực tế mà BBT đang gánh chịu và cũng minh chứng phần nào tính hữu dụng của chỉ số Z nói riêng và mô hình toán học dự báo phá sản nói chung tại Việt Nam. Tuy nhiên, để ứng dụng tốt vào thực tế thì chỉ số Z hay các mô hình định lượng phải được hiệu chỉnh, được xây dựng trên dữ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam, qua kiểm định cụ thể thì hiệu quả mới chính thức được công nhận và nâng cao.

1.2. Chỉ số Zeta

Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Vì tính độc quyền của mô hình nên Altman không công bố một cách đầy đủ các trọng số của mô hình mà chỉ cung cấp 7 biến số mô hình sử dụng:

X1 =

EBIT

Tổng tài sản

Tổng tài sản không bao gồm các lợi thế thương mại và tài sản vô hình trong các biến số của Zeta.
X2 = Mức ổn định thu nhập

  • Chỉ tiêu này đo lường sai số chuẩn trong xu hướng của X1 trong vòng 5 đến 10 năm. Rủi ro kinh doanh thường được biểu hiện thông qua sự dao động của thu nhập nên biến số này tỏ ra có hiệu quả đặc biệt.
  • Bên cạnh đó, Altman cũng đánh giá thông tin chứa đựng trong một vài biến số tương tự để đo lường những rủi ro có thể xảy ra đối với công ty. Những biến số này có ý nghĩa nhưng nó không được đưa vào mô hình

X3 =

EBIT

Lãi vay

  • Tỷ số này được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa và làm cho khác biệt giữa các tỷ số không quá lớn.
  • Lãi vay bao gồm lãi phải trả cho các tài sản thuê ngoài.

X4 =

Lợi nhuận giữ lại

Tổng tài sản

X5 =

Tài sản lưu động

Tổng tài sản

X6=

Vốn cổ phần thường

Tổng vốn

  • Vốn cổ phần thường được tính bằng giá trị thị trường bình quân trong thời gian 5 năm.
  • Tổng vốn = Vốn cổ phần thường + cổ phần ưu đãi + nợ + tài sản thuê ngoài đã được vốn hóa.
X7 = Quy mô (tổng tài sản)
  • Biến số này được điều chỉnh tùy theo những thay đổi trong báo cáo tài chính.
  • Quy mô tài sản cũng được chuyển sang thước đo log cơ số 10 để chuẩn hóa phân phối của biến.
  • Mô hình này được nhiều ngân hàng ở các nước áp dụng và phát triển thành các mô hình khác để xếp hạng khách hàng đi vay như mô hình mạng nơ ron thần kinh (neural network), mô hình dựa trên mức tăng giá thị trường...
Lê Tất Thành - www.rating.com.vn
Tham khảo
1. Bina Lehmann (2003), "Is It Worth the While? The Relevance of Qualitative Information in Credit Rating", Social Science Research Network
2. Edward I. Altman (1968), "Financial ratios, discriminant analysis and the prediction of corporate bankruptcy", The Journal of Finance
3. Edward I. Altman (2000), "Predicting Financial Distress Of Companies: Revisiting The Z-Score And Zeta® Models", New York University
4. Edward I. Altman, "The use of credit scoring models and the important of a credit culture", New York University
5. Fitch (2006), "Corporate Rating Methodology", www.fitchratings.com
6. Moody's (2008), "Moody's Rating Symbols and Definations", www.moodys.com
7. Moody's (2008), "Moody's Financial MetricsTM Key Ratios by Rating and Industry for Global Non- Financial Corporations: 2008", www.moodys.com
8. Standard & Poor's (2008), "Corporate Ratings Criteria", Standard & Poor's
9. Lâm Minh Chánh (2007), "Dùng chỉ số Z để ước tính Hệ số Tín Nhiệm", www.saga.vn

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

[Kinh tế] Giá - lương - tiền

Nguồn : Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tem phiếu dùng để kiểm soát việc phân phối hàng hóa thời bao cấp

Giá - lương - tiền hay cải cách giá - lương - tiền hoặc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền là cuộc cải cách kinh tế tại Việt Nam vào năm 1985 nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu - bao cấp, chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, được thực hiện theo Nghị quyết Trung ương 8, khóa V, Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng khi áp dụng thì cuộc cải cách này đã đưa nền kinh tế Việt Nam vào tình trạng hỗn loạn.

Bối cảnh

Tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV diễn ra từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1978, Đảng Lao động Việt Nam quyết nghị đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, áp dụng mô hình kinh tế của miền Bắc trước khi thống nhất cho cả nước, tiến hành kế hoạch 5 năm 1976-1980. Mô hình kinh tế được lựa chọn đã bộc lộ những khuyết điểm ngay khi còn đang áp dụng ở miền Bắc, khi áp dụng ở miền Nam lại càng cho thấy không phù hợp, gây ra rất nhiều khó khăn cho các đơn vị và nhân dân. Trước thực tiễn đó, những sự thay đổi tư duy quản lý kinh tế đã hình thành, kể cả ở cấp đầu não chính trị, cấp địa phương, lẫn ở các đơn vị kinh tế. Thời kỳ 1979-1982 là thời kỳ có những chuyển biến trong tư duy về kế hoạch hóa kinh tế, về chính sách giá thu mua nông sản, về khoán sản xuất. Kết quả là kinh tế Việt Nam thời kỳ này có những khởi sắc. Tuy nhiên, cũng có những hậu quả tiêu cực như tình trạng tranh mua, tranh bán đẩy giá lên cao, tình trạng kế hoạch tập trung của nhà nước bị các đơn vị kinh tế không chấp hành do mải chạy theo kế hoạch 2 (kế hoạch liên doanh liên kết) và kế hoạch 3 (kế hoạch làm ăn kiểu thị trường). Những mặt tiêu cực này đã khiến hình thành chủ trương xét lại, thể hiện rõ qua Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V vào tháng 3 năm 1982, hội nghị lần thứ 1 (tháng 9/1982), thứ 3 (tháng 12/1982), thứ 4 (tháng 6/1983)và thứ 5 (12/1983) của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa V, chiến dịch Z-30, v.v... Giữa lúc chủ trương uốn nắn lại được đẩy mạnh thì Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh trước vốn là được xem là người bảo thủ đã có những thay đổi lớn về tư duy, đặc biệt là sau khi nghiên cứu những kết quả của các cải cách thời kỳ 1979-1982 và đi thực tiễn địa phương ở nhiều nơi. Ông đã nêu ra ý kiến cần đổi mới và phải đổi mới triệt để tại các hội nghị trung ương lần thứ 6, và 7 . Đến hội nghị trung ương 8 (tháng 6/1985), Ban chấp hành trung ương đã quyết nghị tiến hành một cuộc cải cách lớn về giá - lương - tiền, do giáo sư Đoàn Trọng Truyến, giáo sư Trần Phương, giáo sư Trần Quỳnh chỉ đạo, với nội dung chính như sau:

  • Tính đủ chi phí hợp lý vào sản xuất
  • Thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá c
  • Đảm bảo tiền lương thực tế, thực sự đảm bảo cho người ăn lương sống chủ yếu bằng tiền lương, tái sản xuất được sức lao động.
  • Xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành và các cơ sở kinh tế

Phương án cải cách

Để triển khai thực hiện nghị quyết của hội nghị trung ương 8 của Đảng, Nhà nước Việt Nam thành lập Ban chỉ đạo chiến dịch cải cách giá - lương - tiền do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách phân phối lưu thông Trần Phương đứng đầu. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ vừa thiết kế vừa triển khai chiến dịch. Tháng 8 năm 1985, phương án cải cách được đưa ra như sau:

  • Về giá, phải tính toán đầy đủ giá các mặt hàng Nhà nước cung cấp và giá các mặt hàng Nhà nước mua của nông dân, thợ thủ công theo giá sát với chi phí sản xuất. Để tiện cho tính toán, các mức giá trên được quy ra thóc. Còn giá thóc được xác định bình quân là 25 đồng/kg, dựa trên tính toán thực tế của các chuyên gia. Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hoặc thấp hơn. Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư, như xăng, dầu, xi măng, sắt, theo đó giá sắt 6 tăng 11,5 lần so với mức giá cũ, giá xi măng tăng 12,5 lần.
  • Về lương, Ban chỉ đạo đề nghị tăng lương thêm 20%.
  • Về tiền, để đáp ứng giá mới và lương mới, phải in thêm tiền, để tổng tiền trong lưu thống là 120 tỷ đồng. Nhưng thời điểm đó, Việt Nam không tự in được tiền mà phải nhờ nước ngoài in. In nhiều tiền sẽ tốn thời gian. Vì lẽ đó, để in ít tiền mà vẫn có sức mua lớn, Ban chỉ đạo đưa ra chủ trương đổi tiền. Một đồng mới sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành. Như vậy 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành.

Tiến hành

Cuộc cải cách Giá - lương - tiền được đề ra theo Nghị quyết Trung ương 8, khóa V của Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì vào tháng 6 năm 1985. Giá - lương - tiền bắt đầu được thi hành từ quyết định do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký tháng Chín năm 1985, để củng cố mãi lực của đơn vị tiền tệ Việt Nam. Đây cũng là động lực đưa tới vụ đổi tiền năm 1985 với hối xuất 1 đồng mới ăn 1 đồng, 2 đồng, 6, đồng, 9 đồng hoặc 10 đồng cũ tùy theo thời gian ký thác tiền trong trương mục tiết kiệm. Chủ ý việc đổi tiền là để giảm lượng tiền lưu hành và như thế tăng giá trị của tiền nhưng cũng có những hậu quả tai hại trầm trọng là cơn khủng hoảng kinh tế sau đó. Nhà chức trách đã suy luận sai lầm rằng bằng cách đổi tiền với hối xuất trên, giá trị của đồng tiền sẽ tăng gấp 10 lần.

Mỗi gia đình chỉ được phép đổi lấy 2000 đồng tiền mới. Số tiền vượt con số quy định thì phải nộp vào trương mục ngân hàng đợi nhà chức trách xét sau. Quyết định này cũng xóa sổ vốn tích trữ của nhiều người. Hơn nữa hành động này gây ra cảnh khan hiếm tiền. Có những vụ cơ quan phải trả lương bằng chính loại hàng sản xuất vì không có tiền trả cho nhân công: người làm mũ thì được phát mũ thay tiền lương. Để trả lương, nhà nước lại phải in thêm tiền với khối lượng 1,38 lần so với trước nên hậu quả là vật giá lại tăng mạnh. Sang năm 1986 thì mức lạm phát lên đến 774,7% làm kiệt quệ kinh tế. Riêng các nông sản, so sánh vật giá năm 1986 với năm 1976 thì tăng 2000%.

Những năm kế tiếp lạm phát tiếp tục ở mức ba con số. Đến năm 1989 mới xuống còn hai con số.


Năm Lạm phát
1986 774%
1987 323,1%
1988 393%
1989 34.7%

Để cung ứng nhu yếu phẩm với giá thấp hơn, nhà nước phải mở rộng chương trình tem phiếu nhưng vẫn không đủ nên phải hạn chế theo từng ngạch của đối tượng (công nhân hay học sinh, công chức hay bộ đội, v.v.). Mỗi hạng được phép mua sáu loại hàng với một số lượng ở giá nhất định gồm có gạo, thịt lợn, nước mắm, đường, chất đốt (than, củi, dầu) và xà phòng giặt.

Áp dụng quy chế này cũng buộc nhà nước thu mua hàng hóa từ giới sản xuất ở giá thật thấp, gây phản cảm khiến người sản xuất muốn bán giá cao hơn phải bán bán ra chợ đen, làm thất thoát thêm số lượng hàng ít ỏi. Nhà nông theo quy định chỉ được giữ 60% sản lượng còn 40% phải bán cho nhà nước với giá rẻ theo dạng "thu mua". Vì nhà nước mua ở giá quá rẻ, có khi là dưới giá thành nên dân gian có câu là "mua như cướp". Ngay cả những nông phẩm căn bản là gạo cũng thiếu hụt trầm trọng khiến dân chúng phải ăn độn bằng những thực phẩm trước kia chỉ dùng nuôi gia súc.

Phương thức Giá - lương - tiền lúc bấy giờ chú trọng đến việc kiểm soát lượng tiền để kềm hãm giá mặc dù lý do vật giá tăng là vì thiếu hàng hóa và sản xuất thấp chứ không phải vì lượng tiền lưu hành. Mặt khác giá - lương - tiền cố ấn định giá cả và hạn chế lương bổng nhưng cả ba khía cạnh đều thất bại, không khắc phục được lạm phát.

Rắc rối

Nhà lịch sử kinh tế Đặng Phong cho rằng Cải cách giá - lương - tiền đã bị vỡ trận.

Thứ nhất, các đơn vị kinh tế quốc doanh phản đối mức giá vật tư mới, cho rằng như thế quá cao và đề nghị giảm đi. Tại hội nghị thông báo mức giá mới, các bộ trưởng đã đề nghị các mức giá vật tư thấp hơn. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng chấp thuận rút mức giá mới xuống khoảng 70% so với phương án của Ban chỉ đạo Cải cách.

Thứ hai, các bộ và các tỉnh (nhất là các tỉnh phía Nam) cho rằng mức tăng lương 20% là quá ít. Một số đề nghị nâng mức tăng lương lên 100%. Chính phủ cũng chấp nhận tăng lương 100%.

Kết quả và ý nghĩa

Chi ngân sách Nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức Ban Chỉ đạo đề nghị. Để cứu ngân sách, tiền được phát hành hơn rất nhiều so với kế hoạch. Lạm phát bùng nổ. Những vòng xoáy điều chỉnh giá - lương - tiền càng làm cho lạm phát leo thang nhanh chóng trong năm 1986. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng 10 lần vẫn không đủ bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút. Đầu tư trong công nghiệp giảm.

Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa.

Thường thì trong một nền kinh tế thị trường khi vật giá tăng thì sẽ kích thích sản xuất theo luật cung và cầu. Nhưng vào thập niên 1980 ở Việt Nam vật giá tăng mà biện pháp là kiềm giá bằng cách quy định giá nên hoàn toàn không có hiệu quả mà còn tạo thêm lạm phát.

Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hàng. Chính phủ cố điều chỉnh tình trạng suy thoái với những biện pháp giảm lượng hàng buôn qua ngả chợ đen thì kết quả việc "ngăn sông cấm chợ" và lùng bắt hàng "lậu", tức là mọi thứ hàng không qua tay nhà nước. Trên đoạn đường chỉ vài cây số nhưng có thể có chục trạm gác kiểm soát hàng hóa.

Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm 1985 và năm 1986, song chính sự khủng hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng đã cải cách là phải cải cách triệt để. Mô hình cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn. Trên cơ sở đó cùng với những biến chuyển chính trị toàn cầu như việc Khối Warszawa sụp đổ,, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới lịch sử.

Thứ Bảy, 10 tháng 7, 2010

[Ebook] Sách luyện thi toeic

TOEIC New format Starter TOEIC



TOEIC_Newformat Starter Practice Test Unit 1- 6
TOEIC Newformat Starter Unit 7-12
PRACTICE TEST TOEIC Standard

TOEIC New format Analyst

PHẦN 1
PHẦN 2
PHẦN 3
PHẦN 4

TOEIC New format Developing Skills

Unit1-4
Unit 5-7
Unit 8-11 hoặc ĐÂY
Unit12-14
(PracticeTest)

TOEIC New Format Target



Download Test 1
Download Test 2
Download Test 3
Download Test 4
Download Test 5
Download Test 6


Ebooks Developing Skills và Analyst (chụp)

Developing Skills
Analyst

Longman Preparation Series for the TOEIC Test

Longman Preparation Series for the toeic test Introductory

Disk 0-1
Disk 2-3
Disk 4-5

Longman Preparation Series for the toeic test Intermediate

Disc 0
Disc 1-2
Disc 3-4
Disc 5-6

Longman Preparation Series for the toeic test Advanced



DOWNLOAD Advanced

Hoặc


Disc 1-2
Disc 3
Disc 4-5

Toeic Business Idioms


DOWNLOAD "Toeic Business Idioms" (link 1)
DOWNLOAD "Toeic Business Idioms" (link 2)

Oxford Preparation for the TOEIC course


Test 1
Test 2

Check Your English Vocabulary for TOEIC




DOWNLOAD "Check you English Vocabulary for TOEIC"



Ngân hàng đề thi TOEIC

Download
Download

Phần mềm TOEIC Mastery:

DOWNLOAD

- Ngoài ra, các bạn có thể luyện thêm quyển

30 days to the TOEIC test

Link down đây:

E-book (scan)
Code:
http://rapidshare.com/files/100122339/TOEIC30_Book_Part1.rar
http://rapidshare.com/files/100126489/TOEIC30_Book_Part2.rar
Audio
CD1
CD2

hoặc:
http://rapidshare.com/files/100106685/30_days_toeic_1.rar
http://rapidshare.com/files/100115316/30_days_toeic_2.rar

TOEIC Building Skills

TOEIC Building Skills 1
TOEIC Building Skills 2

Toeic 600 Words

Đây là CD
CD1
CD2
or
CD1
CD2

Đây là sách

Quyển 1 ( 187 pages, 24.97 MB)
Quyển 2

pass:
englishtips.org